Bản án 10/2019/DS-PT ngày 14/11/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 10/2019/DS-PT NGÀY 14/11/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE, DANH DỰ BỊ XÂM PHẠM

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2019/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2019/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2019/QĐ-PT ngày 28/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị K, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Xóm 13, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam.

2. Bị đơn: Anh Trần Duy T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Tiểu khu Bình Minh, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

3. Người làm chứng:

- Bà Trần Thị T, sinh năm 1960.

- Bà Trần Thị H, sinh năm 1958.

- Bà Lương Thị V, sinh năm 1962.

- Bà Bùi Thị L, sinh năm 1964.

- Bà Trần Thị B, sinh năm 1958.

- Ông Trần Văn T, sinh năm 1955.

- Ông Trần Văn K, sinh năm 1964.

Cùng địa chỉ: Xóm 13, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam.

- Chị Trần Thị D, sinh năm 1968.

- Chị Trần Thị C, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: Xóm 14, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam.

- Chị Trần Thị Bích L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Xóm 5, Nhân Thắng, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam.

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Xóm 9, Nhân Thắng, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam.

4. Người kháng cáo: Bà Đào Thị K là nguyên đơn trong vụ án.

Phiên toà có mặt: Bà K, anh T, bà L, bà B.

Những người làm chứng còn lại vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 23/6/2018, Bà Trần Thị B (vợ ông Trần Văn T), Bà Đào Thị K (vợ ông Trần Thanh P), Bà Trần Thị T (vợ Ông Trần Văn T), Bà Bùi Thị L (vợ Ông Trần Văn K) và Chị Trần Thị Bích L (con gái ông Trần Thanh P) cùng nhau ra cánh đồng Dưới thuộc xóm 13, xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam để vạc bờ ruộng cho máy cày bừa để canh tác. Khi ra đến ruộng, Bà K cùng với những người có tên nêu trên nhổ cọc mốc ở phần ruộng do UBND xã Phú Phúc phối hợp với Tiểu ban dồn đổi ruộng đất xóm 13 đã cắm và vạc bờ làm ruộng theo vị trí đã canh tác trước dồn đổi. Thấy vậy, Anh Trần Duy T (là con trai ông Trần Duy K) ra ngăn cản không cho mọi người nhổ cọc mốc trên phần ruộng đã giao cho gia đình anh và đóng lại cọc mốc nên giữa anh T và Bà K, bà B, bà T, bà L và Chị Trần Thị Bích L xảy ra việc lời qua tiếng lại xúc phạm nhau, khi anh T đang đóng lại cọc mốc thì xảy ra mâu thuẫn, xô sát. Anh T đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt và mắt bà B, Bà K, Bà Bùi Thị L và Chị Trần Thị Bích L; ông T vào can ngăn cũng bị chất trong bình xịt hơi cay xịt vào mắt.

Sau khi bị anh T xịt hơi cay vào mặt và mắt, Bà Đào Thị K đã đi cùng với bà B, Bà Bùi Thị L và Chị Trần Thị Bích L đến bệnh viện mắt tỉnh Nam Định sơ cứu và điều trị tại Bệnh viện mắt tỉnh Hà Nam từ ngày 24/6/2018 đến ngày 28/6/2018 ra viện. Với thương tích: Tổn thương kết, giác mạc hai mắt.

Nay Bà Đào Thị K yêu cầu Anh Trần Duy T phải bồi thường gồm:

- Chi phí tại viện mắt Nam Định: 300.000 đồng.

- Chi phí tại viện mắt Hà Nam: 2.326.000 đồng.

- Tiền thuốc ngoại trú: 314.000 đồng.

- Công phục vụ 5 ngày: 1.000.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng sức khỏe 05 ngày 500.000 đồng.

- Thu nhập bị mất khi nằm viện: 1.000.000 đồng.

- Tiền thu nhập bị mất sau khi ra viện (200.000đồng/ngày x 60 ngày): 12.000.000 đồng.

- Tiền bồi dưỡng 10 ngày x 100.000đồng/ngày: 1.000.000 đồng

- Tổn thất tinh thần 10 tháng lương tối thiểu x 1.390.000đồng/tháng: 13.900.000 đồng.

- Tiền xe: 610.000 đồng

Tổng cộng: 33.340.000 đồng (Ba mươi ba triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng)

Bị đơn Anh Trần Duy T có quan điểm: Ngày 22/6/2018, UBND xã Phú Phúc và Tiểu ban dồn đổi ruộng đất xóm 13 xã Phú Phúc đã tiến hành giao đất, đo đạc, cắm mốc diện tích đất dồn đổi cho 8 hộ dân (gồm các hộ ông: Trần Văn K, Trần Văn K, Trần Văn K, Trần Văn Đ, Trần Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T và Trần Thanh P) tại Cánh đồng Dưới thuộc xóm 13, xã Phú Phúc theo kết quả bốc thăm ngày 25/12/2016, nhưng chỉ có hộ gia đình bố đẻ anh là ông Trần Văn K trực tiếp nhận ruộng. Việc anh dùng bình xịt hơi cay gây thiệt hại về sức khỏe cho Bà K là đúng nhưng nguyên nhân dẫn đến việc anh xâm phạm đến sức khỏe của Bà K là do Bà K cùng với một số người khác (bà T, bà B, Bà Bùi Thị L và Chị Trần Thị Bích L) nhổ cọc mốc và ngăn cản anh đóng cọc mốc trên diện tích đất nông nghiệp mà UBND xã Phú Phúc đã giao cho hộ gia đình bố đẻ anh, trong đó có tiêu chuẩn đất nông nghiệp của anh nên Bà K cũng có lỗi một phần.

- Những người làm chứng gồm Bà Bùi Thị L, Bà Trần Thị B và Chị Trần Thị Bích L đều xác định: Bà K có nhổ cọc mốc ngăn cách phần ruộng mà UBND xã Phú Phúc và Tiểu ban dồn đổi ruộng đất xóm 13 xã Phú Phúc đã đo giao cho gia đình anh T. Việc Bà K cùng với mọi người bảo nhau ra nhổ cọc mốc và vạc bờ trên phần đất mà chính quyền địa phương đã đo giao cho gia đình anh T là do không nhất trí với việc dồn đổi ruộng đất của UBND xã Phú Phúc.

Ông Trần Văn K xác định không chứng kiến việc mọi người nhổ cọc, vạc bờ làm ruộng và việc anh T xịt hơi cay vào ai, ông Kim có mặt khi mọi người đã đi viện hết, Ông Trần Văn T đưa cho ông Kim chiếc bình xịt hơi cay nên ông Kim giao lại chiếc bình xịt hơi cay cho công an.

Từ những nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2019/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 24 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử:

Buộc Anh Trần Duy T phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho Bà Đào Thị K tổng các khoản là: 8.340.000đồng (Tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 16/9/2019, Bà Đào Thị K là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Bà Đào Thị K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự bị xâm phạm của Bà Đào Thị K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật.

Đơn kháng cáo của Bà K hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận.

[2] Xét kháng cáo của Bà Đào Thị K:

Xét yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, thấy: Xuất phát từ việc thực hiện kết quả dồn đổi ruộng đất của UBND xã Phú Phúc và Tiểu ban dồn đổi ruộng đất xóm 13 xã Phú Phúc nên vào hồi 15 giờ ngày 23/6/2018, tại Cánh đồng Dưới xóm 13, xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã xẩy ra xô sát giữa Anh Trần Duy T với Bà Trần Thị B, Bà Đào Thị K, Bà Bùi Thị L, Chị Trần Thị Bích L và Ông Trần Văn T. Anh T đã dùng bình xịt hơi cay vào mắt mọi người trong đó có Bà Đào Thị K làm Bà K phải đi bệnh viện sơ cứu và điều trị. Sự việc trên cho thấy anh T đã gây thiệt hại về sức khỏe cho Bà K là vi phạm pháp luật nhưng hành vi này của anh T không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” nên Cơ quan điều tra Công an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự với anh T. Anh T đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lý Nhân ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bà K yêu cầu anh T bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khoẻ là có căn cứ, yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự là không có căn cứ vì anh T không xúc phạm đến danh dự của Bà K.

Về mức bồi thường thiệt hại của Bà K, thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ để buộc anh T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho Bà K số tiền chi phí tại viện mắt Nam Định: 300.000 đồng, chi phí tại viện mắt Hà Nam 1.182.710 đồng, tiền thuốc ngoại trú: 314.000 đồng, tiền công người phục vụ trong 5 ngày: 1.000.000 đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe 5 ngày: 500.000 đồng, tiền thu nhập bị mất: 1.000.000 đồng, tiền xe: 500.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 03 tháng x 1.490.000 đồng: 4.470.000 đồng; tổng cộng: 9.266.710 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của Bà K buộc anh T phải bồi thường các khoản chi phí khác ngoài chi phí đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là không hợp lý, không phù hợp vi tổn thất và chi phí thực tế mà Bà K phải chịu nên không được cấp phúc thẩm chấp nhận.

Xét về lỗi: Hộ gia đình ông Khánh được Ủy ban nhân dân xã Phú Phúc phối hợp với tiểu ban dồn đổi ruộng đất xóm 13 xã Phú Phúc giao đất ruộng sau dồn đổi tại Cánh đồng Dưới theo đúng kết quả bốc thăm ngày 25/12/2016 và đã nhận đất, các hộ gia đình khác đã thực hiện việc bốc thăm nhưng không ra nhận đất, lẽ ra khi các hộ dân không đồng ý với việc dồn đổi ruộng đất theo chủ trương thì đề nghị với cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết tuy nhiên lại ra nhổ cọc mốc và vạc bờ canh tác theo vị trí cũ trên vị trí đất đã giao cho hộ gia đình ông Khánh là xâm phạm đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông Khánh trong đó có tiêu chuẩn đất của anh T, anh T là con ông Khánh ra ngăn cản và đóng lại cọc mốc thì xảy ra mâu thuẫn, xô xát với mọi người trong đó có Bà K nên Bà K cũng có một phần lỗi, cấp sơ thẩm trừ một phần lỗi của Bà K với số tiền 926.670 đồng là có căn cứ. Bà K cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá, phân tích, nhận định không đúng về lỗi của bà và chỉ buộc anh T bồi thường số tiền 8.340.000đ là chưa thỏa đáng, không xem xét đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan, toàn diện dẫn đến xâm phạm quyền lợi của bà là không chính xác.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bà Đào Thị K.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Duy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đào Thị K được miễn án phí dân sự đối với khoản tiền yêu cầu bồi thường không được Tòa án chấp nhận.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà K không phải chịu.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2019/DS-ST ngày 06/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 24 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Buộc Anh Trần Duy T phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho Bà Đào Thị K tổng các khoản là: 8.340.000 đồng (Tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Anh Trần Duy T phải nộp án phí là 417.000 đồng (Bốn trăm mười bảy nghìn đồng). Trả lại Bà Đào Thị K số tiền 833.000 đồng (Tám trăm ba mươi ba nghìn đồng) Bà K đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân theo biên lai số AA/2015/0003466 ngày 08/4/2019.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đào Thị K không phải nộp. Trả lại Bà Đào Thị K số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) Bà K đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân theo biên lai số AA/2015/0003551 ngày 25/9/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


110
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về