Bản án 10/2018/KDTM-ST ngày 15/03/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 10/2018/KDTM-ST NGÀY 15/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày, ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2017/KDTM-ST, ngày 28 tháng 12 năm 2017.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2018/QĐ-ST, ngày 30/01/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐN

Địa chỉ: Số Z, Trần Hưng Đạo, phường T, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ng – Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Lương Văn H – Chuyên viên xử lý nợ, văn bản ủy quyền số 14378 ngày 28/11/2017 (có mặt) .

Địa chỉ: Ấp 1, xã C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn:

1/ Nguyễn Tấn V, sinh năm 1989 (có mặt);

2/ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐNcó đại diện theo ủy quyền ông Lương Văn H tại phiên toà trình bày: vào ngày 24/8/2016, Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐNvà ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th có ký hợp đồng tín dụng số 00167/HĐTD-NH-CN, theo hợp đồng Ngân hàng đồng ý cho vợ chồng ông Nguyễn Tấn V và bà Nguyễn Thị Th vay số tiền 700.000.000 đồng, ông Nguyễn Tấn V và bà Nguyễn Thị Th đã nhận đủ số tiền 700.000.000 đồng, theo giấy nhận nợ ngày 24/8/2016, mục đích vay vốn của vợ chồng ông V là để bổ sung vốn chăn nuôi heo và sản xuất Nông nghiệp, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất là 12%/năm, trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc cuối kỳ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên vay có trả được 28.218.618 đồng tiền lãi, không trả được nợ gốc. Kể từ ngày 05/4/2017, số nợ trên đã quá hạn. Tính đến ngày 15/3/218 phía ông V , bà Thuý còn nợ Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN tổng số tiền là 828.231.382 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn 57.181.382 đồng, lãi quá hạn 71.050.000 đồng. Nay Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN yêu cầu phía bị đơn phải trả cho Ngân hàng số tiền trên. Ngoài ra ông V , bà Thuý phải tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký cho đến khi trả dứt số nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông V , bà Thuý không trả được nợ Ngân hàng đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền bán tài sản thế chấp mà ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th dùng để đảm bảo tại Ngân hàng để thu hồi nợ gồm các tài sản sau:

1/ Quyền sử dụng đất diện tích 4.439 m2, thuộc thửa 1155, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 869182, vào sổ cấp giấy số CH01534, do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 13/01/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

2/ Quyền sử dụng đất diện tích 1.863 m2, thuộc thửa 1156, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 869185, vào sổ cấp giấy số CH01536 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 13/01/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

3/ Quyền sử dụng đất diện tích 823 m2, thuộc thửa 256, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 365087, vào sổ cấp giấy số H 01305 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 17/01/2008 cho ông Nguyễn Tấn V.

4/ Quyền sử dụng đất diện tích 3.386 m2, thuộc thửa 1175, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 386296, vào sổ cấp giấy số CH01720 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 31/8/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

Việc thế chấp tài sản được thực hiện theo hợp đồng thế chấp số 00167/HĐTC-QSDĐ-CN ngày 24/8/2016 được công chứng hợp pháp và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn V tại bản tự khai và biên bản hoà giải ngày 30/01/2018 và tại phiên toà trình bày: do cần vốn mở rộng sản xuất nên vợ chồng ông có vay vốn tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN với số tiền là 700.000.000 đồng. Việc vay vốn được thực hiện theo hợp đồng tín dụng số 00167/HĐTD-NH-CN ngày 24/8/2016 và giấy nhận nợ ngày 24/8/2016. Để đảm bảo khoản vay trên ông có dùng tài sản là các quyền sử dụng đất do ông đứng tên để thế chấp cho Ngân hàng như ngân hàng trình bày là đúng.

Do việc chăn nuôi gặp thất bại nên mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng, nay yêu cầu Ngân hàng cho thời hạn là 12 tháng để vợ chồng ông làm ăn trả nợ cho Ngân hàng. Đồng ý để Ngân bán tài sản thế chấp thu hồi nợ trong trường hợp quá thời hạn trên mà vợ chồng ông không trả được nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Th được toà án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên hoà giải, Phiên họp công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN(gọi là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký. Quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc về lĩnh vực Kinh doanh thương mại, quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Toà án thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Th được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Th.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi suất theo hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 828.231.382 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn 57.181.382 đồng, lãi quá hạn 71.050.000 đồng, (lãi tính đến ngày 15/3/2018) và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kể từ ngày 16/3/2018 cho đến khi trả hết nợ.

[3] Xét thấy, giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th tự nguyện giao kết hợp đồng tín dụng. Bên cho vay đã giải ngân đủ số tiền theo hợp đồng tín dụng và bên vay cũng đã nhận đủ tiền theo giấy nhận nợ ngày 24/8/2016. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả lãi và nợ gốc theo thoả thuận khi đến hạn là vi phạm hợp đồng mà hai bên giao kết, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ gốc và lãi suất theo hợp tín dụng mà hai bên đã ký là đúng quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng. Do vậy, buộc ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 828.231.382 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn 57.181.382 đồng, lãi quá hạn 71.050.000 đồng (lãi tính đến ngày 15/3/2018). Ngoài ra ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th còn phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kể từ ngày 16/3/2018, cho đến khi trả dứt số nợ cho Ngân hàng.

[5] Xét hợp đồng thế chấp tài sản 00167/HĐTC-QSDĐ-CN ngày 24/8/2016 giữa ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th đã ký với Ngân hàng được công chứng hợp pháp và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, nên trường hợp bị đơn không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán tài sản thế chấp này để thu hồi nợ.

[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét bị đơn hiện không có vốn tái sản xuất, được chính quyền địa phương xác nhận gia đình đang gặp khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử xem xét giảm 50% án phí. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th.

2. Buộc ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN tổng số tiền là 828.231.382 đồng, trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn 57.181.382 đồng, lãi quá hạn 71.050.000 đồng (lãi tính đến ngày 15/3/2018).

3. Bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kể từ ngày 16/3/2018 cho đến khi trả dứt số nợ cho Ngân hàng.

4. Nếu bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ, theo hợp đồng thế chấp số 00167/HĐTC-QSDĐ-CN ngày 24/8/2016, gồm các tài sản:

- Quyền sử dụng đất diện tích 4.439 m2, thuộc thửa 1155, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 869182, vào sổ cấp giấy số CH01534, do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 13/01/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

- Quyền sử dụng đất diện tích 1.863 m2, thuộc thửa 1156, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 869185, vào sổ cấp giấy số CH01536 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 13/01/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

- Quyền sử dụng đất diện tích 823m2, thuộc thửa 256, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 365087, vào sổ cấp giấy số H 01305 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 17/01/2008 cho ông Nguyễn Tấn V.

- Quyền sử dụng đất diện tích 3.386 m2, thuộc thửa 1175, tờ bản đồ số 03, đất toạ lạc tại ấp H, xã Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 386296, vào sổ cấp giấy số CH01720 do Uỷ ban nhân dân huyện Cờ Đỏ cấp ngày 31/8/2015 cho ông Nguyễn Tấn V.

5. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: ông Nguyễn Tấn V, bà Nguyễn Thị Th phải nộp số tiền 18.423.000 đồng. Ngân hàng Thương Mại Cổ phần ĐN được nhận lại tạm ứng phí với số tiền 17.867.000 đồng, theo biên lai thu số 000649 ngày 28/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/KDTM-ST ngày 15/03/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:10/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cờ Đỏ - Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về