Bản án 10/2018/HN-ST ngày 12/04/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 10/2018/HN-ST NGÀY 12/04/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 12 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2018/TLST-HNGĐ, ngày 12/02/2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXX ngày 07 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2018/QĐXX ngày 26 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: số Đường 35, phường BTT, Quận 2, Tp HCM, (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1989;
Địa chỉ: số..., Đường 35, phường BTT, Quận 2, Tp HCM, (vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 30/01/2018, Bản tự khai ngày 26/02/2018, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày: Bà và ông G tự nguyện kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 37 do Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng Tây, Quận 2 cấp ngày 05/4/2016. Mâu thuẫn giữa chúng tôi bắt đầu từ năm 2016 do bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp từ đó vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và chúng tôi đã ly thân từ tháng 12/2016. Dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng mọi việc vẫn không thể thay đổi. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đến nay đã trầm trọng, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về việc nuôi con: Quá trình chung sống có 01 (một) con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016. Bà N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên thỏa thuận bà N nuôi con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016 và bà N không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Trường G trình bày: Tại bản tự khai ngày 26 tháng 02 năm 2018, ông G đồng ý với yêu cầu của bà N. Vợ tôi cương quyết ly hôn tôi cũng đồng ý. Tôi đồng ý về việc nuôi con và cấp dưỡng.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông G mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật, về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Lê Thị N yêu cầu ly hôn với bị đơn Ông Nguyễn Trường G. Do ông G cư trú cuối cùng tại Quận 2 nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 2.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn - ông G vắng mặt nhưng Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử so 34/2018/QĐXX ngày 07 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2018/QĐXX ngày 26 tháng 3 năm 2018. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ lời khai của các đương sự cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa có cơ sở xác định bà Lê Thị N và ông Nguyễn Trường G tự nguyện kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 37 do Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/4/2016. Do đó, hôn nhân giữa bà N và ông G là hợp pháp.
Quá trình chung sống, giữa bà N và ông G đã không còn hạnh phúc, đời sống gia đình luôn xảy ra xung đột nhưng cả hai đã không tìm được tiếng nói chung trong tất cả mọi vấn đề. Như vậy, bà N yêu cầu được ly hôn với ông G là có cơ sở.

Về việc nuôi con: Quá trình chung sống có 01 (một) con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016. Bà N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Ông G và bà N thống nhất để bà N nuôi con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016 và ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.
Do có yêu cầu ly hôn nên bà N phải chịu tiền án phí.

Hội đồng xét xử thống nhất với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa.
Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

- Áp dụng Luật thi hành án dân sự.

Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn ông Nguyễn Trường G.
Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 05/4/2016 do Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.

[2] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống có 01 (một) con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016. Ông G và bà N thống nhất để bà N nuôi con tên Nguyễn Lê M, sinh ngày 27/7/2016 và ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bà N phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số AE/2014/0008926 ngày 12/02/2018, do Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2 lập. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/HN-ST ngày 12/04/2018 về ly hôn

Số hiệu:10/2018/HN-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 2 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về