Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 10/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 10/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2017/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2017 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh Th, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện T, thành phố H.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn N, xã NT, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam Nam Hà, Tổng cục VIII, Bộ Công an (đóng tại xã TS, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

Phiên tòa có mặt chị Th, vắng mặt anh H có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 07 tháng 11 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Minh Th trình bày: Chị và anh Trần Văn H lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện K, tỉnh H ngày 16 tháng 9 năm 2008. Sau khi cưới, vợ chồng cùng nhau chung sống hạnh phúc tại nhà bố mẹ chồng ở thôn N, xã NT, huyện K, tỉnh H đến khoảng năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H chơi bời rồi mắc nghiện ma túy, chị và gia đình đã nhiều lần khuyên giải để anh H từ bỏ ma túy, đồng thời đã đưa anh H đi cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm cai nghiện, nhưng anh H sau khi đi cai nghiện về vẫn sử dụng ma túy ngày càng nhiều hơn, làm cho kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi chửi nhau. Đến năm 2012, anh H bị bắt và bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 14 năm 06 tháng tù về tội Mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, cũng kể từ đó vợ chồng chị chính thức ly thân. Nay chị xác định tình cảm giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H.

Về con cái: Chị Th trình bày, vợ chồng không có con riêng và chỉ có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu Q, sinh ngày 13/3/2010, hiện nay cháu đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q, kể từ nay cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Chị Th trình bày, cho đến nay vợ chồng không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05 tháng 02 năm 2018, bị đơn là anh Trần Văn H xác nhận và trình bầy: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc, thời gian và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng anh đúng như chị Th đã trình bầy. Nay chị Th xin ly hôn, anh hoàn toàn đồng ý.

Về con cái: Anh H xác nhận vợ chồng không có con riêng và chỉ có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu Q, sinh ngày 13/3/2010, hiện nay cháu đang ở với chị Th. Khi ly hôn, anh nhất trí giao cháu Q cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ nay cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được, nhưng anh xin không phải cấp dưỡng nuôi con, vì hiện nay anh đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Anh H xác nhận, cho đến nay vợ chồng không có gì, nên không yêucầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên, không thay đổi, bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Minh Th và anh Trần Văn H; giao cháu Trần Thị Thu Q, sinh ngày 13/3/2010 cho chị Th trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th; ngoài ra còn đề nghị về án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và và quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Trần Văn H, hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam và có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa không ai đề nghị hoãn phiên tòa, nên đây thuộc trường hợp bị đơn vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh Th và anh Trần Văn H lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện K, tỉnh H ngày 16 tháng 9 năm 2008. Phải khẳng định đây là cuộc hôn nhân tự do, tiến bộ, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên sau ngày cưới, vợ chồng chỉ chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H chơi bời, không chịu tu trí làm ăn dẫn đến nghiện hút rồi phạm tội Mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Từ khi anh H đi bị bắt, cũng là lúc chị Th bỏ về quê đẻ sinh sống, hai bên không còn quan tâm gì đến tình cảm, cuộc sống của nhau. Nay chị Th xin ly hôn và được anh H thừa nhận tình cảm giữa vợ chồng anh đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, anh H nhất trí ly hôn với chị Th, chứng tỏ cuộc hôn nhân giữa vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xem xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Minh Th và anh Trần Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Th và anh H có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu Q, sinh ngày 13/3/2010. Do anh H đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện chăm sóc con chung, nên cả hai đã tự nguyện thống nhất giao cháu Q cho chị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ nay cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện của đương sự, cần xem xét chấp nhận.

[4] Về con riêng; tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Cả hai cùng khai thống nhất xác nhận, cho đến nay vợ chồng không có gì, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Chị Th và anh H thuận tình ly hôn, đáng lẽ mỗi bên phải chịu 50% án phí, nhưng do chị Th xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm (chị Th xin chịu thay cho cả phần án phí của anh H), nên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Th, giao chị Th chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1.1 Điều 1 mục II phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Minh Th và anh Trần Văn H.

2. Về con chung: Chị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Thị Thu Q, sinh ngày 13/3/2010, kể từ nay cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh Th phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001298 ngày 19/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, chị Th đã nộp đủ tiền án phí. Anh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Phạm Thị Minh Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Văn H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST ngày 10/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:10/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bảng - Hà Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về