Bản án 10/2017/KDTM-PT ngày 28/12/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 10/2017/KDTM-PT NGÀY 28/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P; Tòa án nhân dân tỉnh Hưng yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2017/TLPT-KDTM ngày 06/11/2017 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 02/2017/KDTM-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo;

Theo quyết định đưa vụ án ra xử số: 11/2017/QĐXXPT-KDTM ngày 12/12/2017 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Q;Địa chỉ: Xã X, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 - Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Trú tại: Thôn U, xã X, huyện P, tỉnh Hưng Yên "có mặt".

2. Bị đơn: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1958 và ông Vũ Đức M, sinh năm 1956 (là vợ chồng);

Đều trú tại: Thôn U, xã X, huyện P, tỉnh Hưng Yên "đều có mặt".

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn Thanh - Công ty Luật TNHH Thanh Vân 89 và cộng sự; địa chỉ: Số 19 tập thể Xây lắp 2, tổ 37, phường Phương Liệt quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội “có mặt”.

3. Người kháng cáo:

- Bà Vũ Thị L, sinh năm 1958 - Bị đơn.

- Ông Vũ Đức M, sinh năm 1956 - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P,các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/9/2014, Quỹ tín dụng nhân dân (viết tắt: QTDND) Q cho vợ chồng bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M vay số tiền là 180.000.000đồng, theo hợp đồng tín dụng số TT0201089 ngày 09/9/2014. Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn là 1,2%/tháng (trả lãi theo quý), lãi suất quá hạn là 1,8%/tháng; ngày trả nợ cuối cùng là ngày 09/9/2015.

Hợp đồng tín dụng được đảm bảo thế chấp tài sản bằng thửa đất số 23, tờ bản đồ số 04, diện tích đất 309m2, nhà xây cấp một diện tích 70m2  tại thôn U, xã X, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, cùng ngày bên vay đã nhận đủ số tiền vay là 180.000.000đồng. Tiền lãi bên vay đã trả QTDND Q đến ngày 07/10/2014 là 2.016.000đồng.

Đến hạn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng là ngày 09/9/2015, bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. QTDND Q nhiều lần cử cán bộ đến nhà đối chiếu đôn đốc công nợ nhưng bà L và ông M không trả nợ và không ký vào biên bản làm việc về khoản tiền đã vay của QTDND Q.

Ngày 01/7/2017, QTDND Q khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M phải trả cho số tiền nợ gốc là 180.000.000đồng.

- Lãi trong hạn tạm tính từ ngày 07/10/2014 đến ngày 30/6/2017 = 997 ngày là 180.000.000đ x 1,2%/30 ngày x 997 = 71.784.000đồng.

- Lãi quá hạn tạm tính từ ngày 10/9/2015 đến ngày 30/6/2017 = 659 ngày là 180.000.000đ x 0,6%/30 ngày x 659 = 23.724.000đồng.

Tổng số tiền nợ gốc và lãi QTDND Q yêu cầu bà L ông M phải trả (tính đến ngày 30/6/2017) là: 275.508.000đồng và yêu cầu bà L ông M tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng tính từ ngày 30/6/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Kể từ ngày xét xử sơ thẩm nếu bà L ông M không trả được số tiền nợ gốc thì bà L ông M còn phải chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất như hợp đồng đối với số nợ gốc chưa trả cho đến khi trả xong.

QTDND Q không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với Hợp đồng thế chấp và tài sản thế chấpkhi vay tiền.

Quá trình giải quyết vụ án, ông M đề nghị sẽ viết bản tự khai nộp cho Tòa án ngày 16/8/2017 nhưng không thực hiện và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ông M, bà L được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt, ngày 18/9/2017bà L, ông M tiếp tục có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời xác định có vay QTDND Q số tiền là 180.000.000đồng.

Tại bản án sơ thẩm số: 02/2017/KDTM-ST ngày 28/9/2017, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hưng Yên quyết định:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 281; Điều 290; Điều 298; Điều 471; Điều 474; Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng nhà nước; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.

Khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 2; Điều 6; khoản 2 Điều 26; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân Tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp và Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Q.

Buộc bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Q toàn bộ số tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).

Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 07/10/2014 đến ngày 09/9/2015 là 23.760.000đ (hai mươi ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 10/9/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2017) là 77.760.000đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2017) bà L ông M phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Q là 281.520.000đ (hai trăm tám mươi mốt triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/10/2017, bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M kháng cáo, yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà L, ông M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bà L và ông M đều xác định chữ ký trong hồ sơ vay vốn như: Giấy ủy quyền cam kết, giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng tín dụng là do ông, bà tự ký, nhưng cho rằng do ông Vũ Hồng B - giám đốc cũ của QTDND Q nhờ ký thì ông, bà ký, nhưng nay ông bà cũng không có căn cứ gì để chứng minh được việc này, đề nghị HĐXX giải quyết theo pháp luật.

Luật sư Nguyễn Văn Thanh bảo vệ cho bị đơn phát biểu ý kiến: Trong hồ sơ vay vốn do nguyên đơn nộp có một số vấn đề không đảm bảo đúng thủ tục; vợ chồng bà L không là thành viên của QTDND Q nhưng vẫn cho vay tiền; lãi suất cho vay cao hơn quy định của pháp luật dân sự... Do đó, giao dịch dân sự là giả mạo, đề nghị HĐXX tuyên hủy bản án sơ thẩm, hủy hợp đồng thế chấp tài sản và tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Nguyên đơn nhất trí như quyết định của bản án sơ thẩm và yêu cầu vợ chồng ông M bà L phải trả tiền cho QTDND Q để Quỹ còn trả lại tiền người dân cho Quỹ vay tiền để ông bà vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Các nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/9/2014 vợ chồng bà L và ông M có ký hợp đồng vay của QTDND Q 180.000.000 đồng và đã được giải ngân sau khi ký hợp đồng, thời hạn vay là 01 năm, lãi suất vay theo thỏa thuận trong hạn là 1,2%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 1,8%/tháng. Sau khi vay tiền, vợ chồng ông M bà L đã trả QTDND Q 01 tháng tiền lãi là 2.016.000 đồng, sau đó không trả cả gốc và lãi. Do đó QTDND Q khởi kiện ông M bà L để đòi nợ và Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm buộc vợ chồng bà L ông M phải trả QTDND Q 180.000.000 đồng tiền gốc, 23.760.000 đồng lãi trong hạn và 77.760.000 đồng lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm; tổng cộng số tiền ông M bà L phải trả QTDND Q 281.520.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật và mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng không trái với quy định tại khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005. Vì vậy, kháng cáo của ông M, bà L và quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn không có cơ sở chấp nhận, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2017/KDTM-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở lời trình bày của đại diện nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ính của bị đơn, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện tài liệu, chứng cứ của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M là bị đơn trong vụ án có kháng cáo trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định là hợp pháp.

[2] Xét đơn kháng cáo của bà L, ông  M đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 02/2017/KDTM-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hưng Yên gồm 02 nội dung; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

- Nội dung thứ nhất: Tòa án thu thập chứng cứ không đầy đủ, xét xử không khách quan.

Căn cứ các lài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện của QTDND Q, Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo để nguyên đơn nộp tạm ứng án phí kinh doanh thương mại. Sau khi nguyên đơn giao nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý vụ án và ra Thông báo thụ lý vụ án gửi bị đơn, Viện kiểm sát nhân dân huyện P đúng quy định. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình;ông M chỉ đến làm việc với Tòa án huyện P một lần để xin được về nhà viết bản tự khai và gửi đến Tòa án vào ngày 10/8/2017, còn bà L lấy lý do đi trông cháu không đến Tòa để làm việc và hai ông bà có đơn xin được vắng mặt không đến Tòa án làm việc. Khi Tòa án huyện P ra Thông báo mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhận được Thông báo nhưng bị đơn không đến tham gia phiên họp và phiên hòa giải của Tòa án. Khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, đã triệu tập bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn cũng không đến phiên tòa mà có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, thừa nhận có vay của QTDND Q số tiền 180.000.000 đồng. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện P đã thực hiện đầy đủ, đúng các bước trong quy trình tố tụng. Sau khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt bị đơn, Tòa án đã ra văn bản thông báo gửi nội dung, kết quả phiên họp, phiên hòa giải cho bị đơn biết. Sau khi xét xử vắng mặt bị đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện gửi bản án cho bị đơn theo quy định và thực tế bị đơn đã nhận được bản án và làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật. Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bà L, ông M cũng không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án không khách quan. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L, ông M khai do ông Vũ Hồng B - giám đốc cũ của QTDND Q nhờ ký hồ sơ vay vốn của QTDND Q, nhưng ông bà cũng không đưa ra được căn cứ nào để chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Do đó, có đủ căn cứ xác định trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ, đúng quy trình tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên kháng cáo về nội dung này của bà L, ông M không có cơ sở để chấp nhận.

- Nội dung thứ 2: Việc áp dụng về lãi suất không đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ hợp đồng tín dụng số TT0201089 ngày 09/9/2014 ký kết giữa QTDND Q với bà Vũ Thị L còn ông Vũ Đức M chồng bà L là người thừa kế và ký tên trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản nhà đất để đảm bảo việc vay tiền. Khi ký kết hợp đồng tín dụng, các bên đều có đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hoàn toàn tự nguyện và hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã X. Trong hợp đồng tín dụng các bên đã cùng nhau thỏa thuận lãi suất tiền vay trong thời hạn 01 năm bằng 1,2%/tháng (tiền lãi trả theo tháng) và thỏa thuận lãi suất nợ quá thời hạn là 1,8%/ tháng. Đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Theo khoản 2 Điều 1 Quyết định số 499/QĐ-NHNN ngày 17/3/2014 của Ngân hàng nhà nước quy định: Quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô ấn định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 09%/năm. Như vậy, lãi suất tiền vay trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận là 1,2%/tháng tương ứng bằng 14,4%/năm là cao, vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định (9% x 1,5 = 13,5%/năm), do đó mức lãi suất cao nhất các bên thỏa thuận chỉ được chấp nhận bằng 1,125%/tháng. Đối với lãi suất do nợ quá hạn trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận là 1,8%/tháng là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Như vậy, lãi suất nợ quá hạn theo các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng bằng lãi suất trong hạn trên nợ gốc cộng với lãi suất nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định nêu trên là 9%/năm tương ứng 0,75%/tháng. Vì vậy, phần thỏa thuận của các bên về lãi suất nợ quá hạn trong hợp đồng tín dụng là 1,8%/tháng (thấp hơn 1,125% + 0,75% = 1,875%) là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ sự phân tích trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tính khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc 180.000.000 đồng của vợ chồng ông M bà L vay của QTDND Q đối với tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng 1,8%/tháng là đúng quy định của pháp luật; riêng khoản tiền lãi trong hạn cấp sơ thẩm chấp nhận tính lãi suất 1,2%/ tháng như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là không đúng, cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần này để tính lãi suất trong hạn bằng 1,125% /tháng. Cụ thể tiền lãi suất được tính như sau :

- Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 07/10/2014 (trừ 01 tháng đã trả lãi) đến ngày 09/9/2015 với thời gian là 11 tháng sẽ bằng: (180.000.000đ, x 1,125%/tháng) x 11 tháng = 22.275.000 đồng.

- Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 10/9/2015 đến ngày 28/9/2017 (xét xử sơ thẩm) với thời gian tính tròn là 24 tháng, sẽ bằng: (180.000.000đ x 1,8%/tháng) x 24 tháng = 77.760.000 đồng.

Do đó, tổng số nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2017) bà L và ông M phải trả cho QTDND Q là: 180.000.000 đồng + 22.275.000 đồng + 77.760.000 đồng = 280.035.000 đồng.

Bởi vậy, kháng cáo của bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức M và ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn tại phiên tòa đượcchấp nhận một phần để sửa bản án sơ thẩm về phần lãi suất. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa cơ bản được chấp nhận, không giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm mà sửa một phần về lãi suất trong hạn.

[3] Về phần áp dụng pháp luật: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp và Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản vào giải quyết vụ án trong khi Thông tư này đã hết hiệu lực, nên Tòa án cấp phúc thẩm sẽ không áp dụng Thông tư này trong phần quyết định.

[4] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số  326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án, các bị đơn kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm kinh doanh thương mại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 148, khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 và 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2017/KDTM-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hưng Yên như sau:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 281; Điều 290; Điều 298; Điều 471; Điều 474; Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật Ngân hàng nhà nước; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.

Khoản 1 Điều 228; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3; Điều 6; khoản 2 Điều 26; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Q.

Buộc bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Q toàn bộ số tiền gồm:

Toàn bộ số tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).

Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 07/10/2014 đến ngày 09/9/2015 là 22.275.000đ (hai mươi hai triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 10/9/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2017) là 77.760.000đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2017) bà L và ông M phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Q là 280.035.000đ (hai trăm tám mươi triệu không trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Về án phí sơ thẩm: Bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức M phải chịu 14.001.750đ (mười bốn triệu không trăm linh một nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả lại Quỹ tín dụng nhân dân Q số tiền 6.887.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 005472 ngày 18/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.2. Án phí phúc thẩm:

- Hoàn trả bà Vũ Thị L 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền  tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 005526 ngày 31/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Hưng Yên.

- Hoàn trả ông Vũ Đức M 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 005529 ngày 31/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Hưng Yên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".


341
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/KDTM-PT ngày 28/12/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:10/2017/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hưng Yên
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:28/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về