Bản án 10/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 10/2017/HSST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 29/11/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2017/HSST ngày 16/11/2017 đối với bị cáo: Đặng Phúc T, sinh ngày 09/10/1997.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không. Con ông Đặng Hiệu T, sinh năm 1979; con bà Dương Thị N, sinh năm 1972. Bị cáo có vợ là Triệu Thị M, sinh năm 2000; con: Bị cáo có một con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NHẬN THẤY

Khoảng 17 giờ 30’ ngày 23/10/2017, Đặng Phúc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12Z1 – 027.93 chở theo vợ là Triệu Thị M, sinh năm 2000 và con nhỏ là Đặng Quý T, sinh năm 2017 đi theo hướng Lạng Sơn – Quảng Ninh, khi xe mô-tô do Đặng Phúc T điều khiển đến Km61+45, quốc lộ 4B thuộc địa phận thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn, theo T khai “do có xe ô-tô tải đi ngược chiều, bật đèn pha chói mắt, làm khuất tầm nhìn”, xe mô-tô do Đặng Phúc T điều khiển đã đâm vào phía sau xe đạp do bà Phạm Thị V, sinh năm 1946, trú tại: thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi cùng chiều, làm bà V ngã xuống đường tử vong. Sau khi tai nạn xảy ra Đặng Phúc T xuống kiểm tra thấy bà V đã tử vong, do lo sợ gia đình bị hại đánh Đặng Phúc T đã bảo với vợ là “đi khỏi chỗ này rồi gọi bố để trình báo với Công an” Đặng Phúc T điều khiển xe mô tô chở theo vợ, con, khi đi qua khỏi suối thôn Q đi vào xã C, huyện Đ, vợ T bảo dừng xe và không cho điều khiển xe nữa nên T đã để vợ điều khiển xe mô tô chở T về nhà. Đến địa phận thôn K, T dừng lại lấy điện thoại gọi về cho Bố là Đặng Hiệu T, nhờ bố trình báo sự việc với cơ quan Công an nhưng không liên lạc được. T cùng vợ tiếp tục đi đến địa phận giáp ranh giữa thôn K và Thôn B, xã C, huyện Đ thì dừng lại, lúc này T thấy buồn nôn và chảy máu mũi nên đã đưa điện thoại để vợ gọi điện về cho bố và nói rõ toàn bộ sự việc, đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày ông Đặng Hiệu T đã gọi điện trình báo với Cơ quan điều tra Công an huyện Đình Lập về việc con trai là Đặng Phúc T gây tai nạn. Bản thân Đặng Phúc T khi xảy ra tai nạn cũng bị thương sau đó được đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Đến 08 giờ ngày 24/10/2017, Đặng Phúc T đã đến Công an huyện Đình Lập khai báo toàn bộ nội dung sự việc.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 137/2017/GĐPY ngày 30/10/2017, của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận bà Phạm Thị V chết do trụy tim mạch do đứt tủy sống vùng cổ, gãy đốt sống cổ 1, 2 do tương tác với vật tày quá lớn.

Tại bản giám định kỹ thuật số 86/GĐKT-ĐK ngày 01/11/2017 của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kết luận: Xe mô tô 12Z1 – 027.93 khi xảy ra tai nạn các hệ thống an toàn đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Đặng Phúc T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 29/10/2015, có giá trị không thời hạn.

Tại kết luận định giá tài sản số 07/KL-HDĐGTS ngày 06 tháng 11 năm 2017 thì giá trị chiếc xe đạp là 170.000 (một trăm bảy mươi nghìn đồng).

Về vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đình Lập đã tạm giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 12Z1 – 027.93 cùng các giấy tờ liên quan, giấy phép lái xe mô tô mang tên Đặng Phúc T và xe đạp của bà Phạm Thị V.

Về trách nhiệm dân sự: Đặng Phúc T cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 120.000.000 đồng. Nay gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Đặng Phúc T.

Với nội dung vụ án như trên. Tại bản cáo trạng số: 10/VKS-HS ngày 15/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập đã truy tố bị cáo Đặng Phúc T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Phúc T từ 18 đến 24 tháng tù, có thể cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình người bị hại; về vật chứng đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 12Z1-027.93 cùng giấy đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe; trả lại chiếc xe đạp của bà Phạm Thị V cho anh Nguyễn Văn H. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện của bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Phúc T đều khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, cụ thể: Vào hồi 17 giờ 30 phút, ngày 23/10/2017 bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12Z1-027.93 đi theo hướng Lạng Sơn - Quảng Ninh, khi đi đến km61+45, quốc lộ 4B thuộc địa phận thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn, do có xe ô tô tải đi ngược chiều, bật đèn pha chói mắt, làm khuất tầm nhìn nên xe mô tô do Đặng Phúc T điều khiển đã đâm vào phía sau xe đạp do bà Phạm Thị V, sinh năm 1946, trú tại: thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi cùng chiều, làm bà V ngã xuống đường tử vong. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi kết luận bà Phạm Thị V chết do trụy tim mạch do đứt tủy sống vùng cổ, gãy đốt sống cổ 1, 2 do tương tác với vật tày quá lớn.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 vì bị cáo đã không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép hoặc có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế khi có xe tải đi ngược chiều, chói đèn làm ảnh hưởng tầm nhìn của bị cáo.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không có chứng cứ ngoại phạm đối với bị cáo.

Đối với hành vi sau khi gây tai nạn bị cáo không giữ nguyên hiện trường mà lái xe rời khỏi hiện trường, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ được việc bị cáo rời khỏi hiện trường không phải để trốn tránh trách nhiệm hay không cứu giúp người bị hại mà do tâm lý hoang mang khi gây tai nạn và khi đó người bị hại đã chết, đồng thời bị cáo và con của bị cáo cũng bị thương tích nên sau khi rời khỏi hiện trường bị cáo đã gọi cho bố là Đặng Hiệu T để báo Cơ quan điều tra rồi vào viện kiểm tra thương tích, sáng hôm sau bị cáo tự đến Công an huyện Đình Lập đầu thú về hành vi phạm tội. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng hành vi phạm tội của bị cáo, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; mặc dù gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nhưng bị cáo đã cố gắng bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho gia đình người bị hại với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Nay đại diện hợp pháp của người bị hại không còn yêu cầu gì khác và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đồng thời sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã điện thoại cho bố là ông Đặng Hiệu T để báo cho Cơ quan điều tra và sau đó bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 mà bị cáo được áp dụng.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngoài lần phạm tội này luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính hay bị xử lý kỷ luật. Trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay tiếp tục vi phạm pháp luật. Xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người biết ăn năn hối cải để họ yên tâm cải tạo, chở thành người tốt cho gia đình và xã hội. Việc cho bị cáo được hưởng án treo phù hợp với quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ án, bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng các khoản là 120.000.000 đồng. Nay đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cụ thể: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 12Z1-027.93 cùng giấy đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe; đối với chiếc xe đạp của bà Phạm Thị V trả lại cho người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Nguyễn Văn H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật để sung công quỹ Nhà nước do bị tuyên là có tội.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Phúc T phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Phúc T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đặng Phúc T cho Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Đặng Phúc T và đại diện hợp pháp của người bị hại anh Nguyễn Văn H về phần bồi thường dân sự. Bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình người bị hại với tổng số tiền  là 120.000.000 đồng.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 12Z1-027.93; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000046 mang tên Đặng Phúc T; 01 giấy phép lái xe số 240154828086 cấp ngày 29/10/2015 mang tên Đặng Phúc T.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn H 01 xe đạp nhãn hiệu VIHABICO.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2017 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đình Lập)

4. Về án phí:  Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Phúc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về