Bản án 10/2017/HSST ngày 16/06/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 10/2017/HSST NGÀY 16/06/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 16 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2017/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Ngô Quang T, sinh ngày 28/8/1983 tại Hải Phòng; thường trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Ngô Quang T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; có vợ là Đào Thị Q, sinh năm 1984; có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2017: Có mặt.

Người bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1965, đã chết ngày 23/11/2016.

Đại diện hợp pháp cho bà H do anh Phạm Hữu Đ, sinh năm 1988; trú tại: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng: Xin xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Ngô Quang T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 22/11/2016, Ngô Quang T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147 đi trên đường 401 theo hướng từ thôn T, xã M ra đường 362 để về nhà. Khi đến khu vực thôn T1, xã M, huyện K đã va chạm với bà Lê ThịH đang đi bộ phía trước cùng chiều làm bà H ngã xuống đường bị thương tích. Tcũng bị ngã xuống đường. Bà H được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, đến 17 giờ 01 phút ngày 23/11/2016 đã chết.

Kết quả khám nghiệm tử thi và giám định pháp y số 235/GĐPY/2016 ngày15/12/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Bà Lê Thị H bị thương tích tại vùng trán phải có đám da màu tímkích thước 1,5cm x 1cm vùng chẩm, cách chân tóc gáy 11cm có đám xây xước dập rách da kích thước 4cm x 3,5cm. Vùng trên mông trái có đám xây xước trượt da nằm ngang màu nâu kích thước 5cm x 3cm, cách gót chân trái 87cm. Phía trên ngoài mông phải có đám xây xước trợt da nằm dọc theo trục cơ thể kích thước 7cm x 4cm, cách gót chân phải 87cm. Vùng lưng phải có vết xước trợt da nằm dọc theo trục cơ thể kích thước 6cm x 1,5cm. Rải rác mặt sau hai khuỷu tay và dưới gối phải có một số xây xước bầm tím da nhỏ. Nguyên nhân chết do sốc chấn thương sọ não.

Ngô Quang T bị thương tích nhẹ, từ chối giám định thương tích.

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn đã xác định: Đường 401 thuộc địa phận thôn T1, xã M, huyện K. Đường thẳng trải nhựa rộng 06m, không có hệ thống biển báo hiệu giao thông đường bộ, không có dải phân cách chia thành 02 làn đường, tại khu vực hiện trường không có vạch kẻ quy định phần dành cho người đi bộ sang đường. Lấy mép đường bên phải theo chiều từ thôn T, xã M đi ra đường 362 làm chuẩn. Lề đường bên phải là mặt nắp cống thoát nước bê tông rộng 0,75m bằng với mặt đường. Trên lề đường bên phải và trước sân nhà ông Phạm Văn P là đống gạch tiếp giáp mép đường kích thước 3m x 0,3m. Lề đường bên trái rộng 1m có cỏ mọc bao phủ. Xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147 đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng mép đường, đuôi xe quay hướng lòng đường 401. Trục bánh trước xe mô tô cách mép đường 1,6m. Trục bánh sau xe mô tô cách mép đường 2,9m. Trục bánh trước xe mô tô cách vết máu 3,2m. Vết máu có kích thước 0,6m x 0,3m, tâm vết máu cách mép đường 0,55m, cách mép đống gạch theo hướng vuông góc là 0,45m. Vết xước đứt đoạn màu trắng xám dài 10,9m có hướng từ thôn T đi ra đường 362. Đầu vết xước cách mép đường 2m. Cuối vết xước nằm tại bàn để chân phía sau bên trái xe mô tô, cách mép đường 2,5m. Khoảng cách từ đầu vết xước đến tâm vết máu là 8,45m.

Xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147: Mặt trước phần kim loại chân gương bên trái, phần nhựa ốp đèn xi nhan phía trước bên trái; mặt dưới ngoài bàn để chân trước bên trái bị trượt xước, mài mòn bám dính tạp chất màu đỏ, có hướng từ trước về sau. Mặt trước núm tay nắm bên trái bị trượt mài kích thước 2,5cm x 0,5cm. Điểm thấp nhất của núm tay nắm bên trái cách mặt đất 95cm. Mép ngoài phần nhựa cách yếm bên trái bị trượt xước kích thước 8cm x 2cm hướng từ trước về sau. Góc cánh yếm ngoài bên trái cách mặt đất 74cm. Phần kim loại đầu bàn để chân sau bên trái bị trượt mài, bám dính tạp chất màu trắng sáng kích thước 3,5cm x0,5cm, có hướng từ trên xuống dưới. Mặt trước đế chân chống nghiêng, bị màitrượt, phần bề mặt bám dính tạp chất màu trắng xám và gỉ sắt, kích thước 2cm x0,2cm, có hướng từ trên xuống và từ trước về sau.

Kết quả thực nghiệm điều tra và dựng lại hiện trường xác định: Đầu vết xước tạo ra có thể do mặt trước đế chân chống nghiêng của xe mô tô 16K8-8147 là phù hợp. Tay nắm bên trái xe mô tô va chạm vào thắt lưng bà Lê Thị H. Điểm va chạm giữa xe mô tô và bà H nằm trên lòng đường, cách mép đường bên phải 2m, cách vị trí tâm vết máu 1,5m, cách điểm cuối vết xước 2,85m, cách điểm đầu vết xước là 8,25m. Theo Công văn số 50/CV-PC54 ngày 09/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng trả lời: Cơ chế hình thành thương tích trên người bà H do va đập, mài trượt. Với kích thước, khoảng cách của tay nắm bên trái xe mô tô 16K8-8147 cách mặt đất 95cm có thể gây nên vết xây xước, trợt da vùng lưng phải, vùng trên mông hai bên (cách gót chân 87cm). Trên cơ thể nạn nhân do tư thế xe mô tô bị nghiêng, đổ trái trước khi va chạm vào nạn nhân (khi xe bị nghiêng trái, khoảng cách giữa tay nắm trái của xe và mặt đường sẽ nhỏ hơn 95cm).

Vào hồi 22 giờ 47 phút cùng ngày, Cơ quan Công an lập biên bản đo nồng độ cồn đối với Ngô Quang T, kết quả xác định: Trong hơi thở của Ngô Quang T có chứa 0,661 miligam/01 lít khí thở.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147 nhãn hiệu Wave màu xanh mang tên Đào Thị Q (vợ T). Cơ quan điều tra đã xác minh trả lại cho chị Q, chị Q không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bà H số tiền 60.0000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bà H không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo: Ngô Quang T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội: Khoảng 19 giờ ngày 22/11/2016, Trưởng đi xe mô tô đến nhà anh Vũ Văn X ở thôn T, xã M, huyện K. Tại nhà anh X, T cùng X, Minh uống hết 03 lít bia hơi. Đến 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147 (có giấy phép lái xe mô tô) đi trên đường 401 theo hướng từ thôn T, xã M ra đường 362 để về nhà. T điều khiển xe mô tô đi với tốc độ 50 km/h cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 1m đến 1,5m. Khi đến khu vực thôn T1, xã M phát hiện phía trước khoảng 20m thấy bà H đang đi bộ cùng chiều bên phải, bà H đi xiên chéo sang bên trái về phía lòng đường, mép đường bên phải có một đống gạch. T không giảm ga, chỉ bấm còi báo hiệu và điều khiển xe đi sát vào mép đường bên phải để vượt bà H. Khi xe mô tô cách bà H 5m đến 6m thì bà H bất ngờ chuyển hướng đi xiên chéo vào mép đường bên phải, Tkhông kịp xử lý làm xe mô tô đổ nghiêng va quyệt trên mặt đường, nên phần tay nắm bên trái và cánh yếm bên trái xe mô tô va chạm vào phần thắt lưng trái rồi trượt sang lưng phải bà H làm bà H ngã xuống đường bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đến ngày 23/11/2016 đã chết.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội đã bổ sung một phần quyết định truy tố trong Cáo trạng: Trong vụ án, bà H cũng có lỗi một phần khi đi bộ sang đường đã không quan sát, đang đi xiên ra lòng đường về bên trái lại bất ngờ quay lại đi xiên về mép đường bên phải va chạm vào xe mô tô của T, bị ngã xuống đường dẫn đến tử vong đã vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo: Ngô Quang T phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết 144/2016/QH13; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Ngô Quang T mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách là 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bà H là 60.000.000 đồng; đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra trách nhiệm cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Quang T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường nơi xảy ra vụ án, biên bản khám nghiệm tử thi, dấu vết phương tiện, kết luận giám định pháp y, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 22/11/2016, Ngô Quang T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K8-8147, trong tình trạng có sử dụng rượu, bia vượt qua giới hạn cho phép, nồng độ cồn chứa 0,661 miligam/1lít khí thở, đi trên đường 401 khu vực thôn T1, xã M, huyện K, không phân chia thành hai chiều xe chạy, khi thấy bà H đang đi bộ phía trước cùng chiều sang đường; T đã không giảm tốc độ có thể dừng lại một cách an toàn nên đã đâm vào bà H dẫn đến bà H bị chết. Hành vi của Ngô Quang T đã vi phạm khoản 8 Điều 8; khoản 4 Điều 11; khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới khi tham gia giao thông. Trong vụ án, bà H cũng có lỗi một phần khi đi bộ sang đường đã không quan sát, đang đi xiên ra lòng đường về bên trái lại bất ngờ quay lại đi xiên về mép đường bên phải va chạm vào xe mô tô của T, bị ngã xuống đường dẫn đến tử vong, đã vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Như vậy, hành vi của bị cáo Ngô Quang T đã thỏa mãn cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, tính mạng của công dân. Cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo, đồng thời để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của đại điện người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bị hại cũng có lỗi, đại diện hợp pháp của người bị hại tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa đều có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ, mẹ đẻ tham gia thanh niên xung phong được hưởng trợ cấp của Chính phủ. Bố vợ tham gia kháng chiến chống Mỹ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhì, thương binh hạng 4/4, Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam. Gia đình bị cáo có đơn xin bảo lãnh được Chính quyền xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 và theo Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo, nên bị cáo T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để quyết định hình phạt; không cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bà H bị chết. Tổng chi phí và mai tang phí là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng); giữa bị cáo và đại điện hợp pháp của người bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong số tiền trên, không yêu cầu đề nghị gì thêm. Xét sự thỏa thuận thống nhất của đôi bên là tự nguyện được chấp nhận, nên không đặt ra trách nhiệm cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b kkhoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 144/2016/QH13; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Ngô Quang T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trưởng cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


124
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về