Bản án 10/2017/HNGĐ-PT ngày 20/07/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 10/2017/HNGĐ-PT NGÀY 20/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON VÀ CẤP DƯỠNG NUÔI CON

Ngày 20 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2017/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2017 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2017/QĐPT-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1980 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1977 (có mặt). Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Người kháng cáo ông Nguyễn Văn K - bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 2005 bà H và ông K chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện T trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 02 con là cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 28/3/2006 và Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/02/2008. Từ năm 2012 đến nay, vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau. Trong thời gian ly thân, bà H vẫn nuôi hai con, đến năm 2015 ông K dẫn cháu H về bên nội tại xã D, huyện T. Cháu H ở được khoảng 4 tháng thì bà H đón cháu về xã N, huyện L ở và đi học cho đến nay.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H trình bày:

Nguyên nhân mâu thuẫn là do sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nay bà H nhận thấy không còn tình cảm gì với ông K nữa nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con là 2.000.000đ/tháng. Bà H cho rằng các con còn nhỏ tuổi, bà muốn anh em nương tựa, đùm bọc lẫn nhau. Trước đây, ông K đã nuôi cháu H một thời gian nhưng không chăm sóc được tốt. Hiện nay, bà H và các con cùng ở với nhau, điều kiện đi lại, học hành, cuộc sống của các con và bà thuận tiện, ổn định, bản thân bà có công việc và thu nhập ổn định.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.

Theo bản tự khai và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau này có nhiều mâu thuẫn, từ những mâu thuẫn nhỏ dần dần trở thành lớn hơn và không thể hòa giải với nhau được. Từ năm 2012 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Năm 2015, ông K có dẫn cháu H về xã D, huyện T giao cho ông bà nội nuôi. Trong thời gian này, do có nhiều áp lực công việc, thỉnh thoảng ông K uống rượu nhưng chỉ quát tháo, la mắng chứ không đánh cháu H, cháu học hành trung bình chứ không sa sút. Cháu H ở với ông K được khoảng 4 tháng thì bà H đến đón về ở với bà H đến nay. Ông K nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng là khó hàn gắn, bản thân ông tuy còn thương yêu vợ con nhưng bà H quyết liệt và xác định không còn tình cảm với ông, nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

- Về con chung: Ông K yêu cầu được nuôi một trong hai cháu và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Ông cũng đồng ý hỗ trợ thêm cho bà H để nuôi cháu còn lại là 2.000 000 đồng/ tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện L đã áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn K.

- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 28/3/2006 và Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/02/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi. Buộc ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi hai con là 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 5/2017.

Ông Nguyễn Văn K được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/5/2017, ông Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm nêu trên với nội dung: Ông yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Minh H, không đồng ý số tiền cấp dưỡng mà Tòa đã tuyên là 2.000.000 đồng và chỉ đồng ý cấp dưỡng theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ, tài liệu mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, HĐXX và thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung kháng cáo: Xét điều kiện hoàn cảnh của hai bên cũng như nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần của hai con. Vì quyền lợi của hai cháu thì cấp sơ thẩm giao hai cháu cho bà H nuôi dưỡng và yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi hai con là 2.000.000 đồng /tháng là có cơ sở.

Vì vậy đề nghị HĐXX bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên nội dung của bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Bà Hạnh và ông K có 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 28/3/2006 và Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/02/2008. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà H yêu cầu được nuôi cả hai con và yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi 02 con là 2.000.000đ/tháng. Ông K yêu cầu được nuôi cháu H và không yêu cầu bà H cấp dưỡng, ông K đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà H là 2.000.000đ/tháng.

Xét ông K kháng cáo yêu cầu được quyền nuôi con, chăm sóc con là yêu cầu chính đáng, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Tuy nhiên việc giao con cho vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi của người con, phải bảo đảm cho con có điều kiện tốt nhất để phát triển cả về thể chất, tinh thần, nhân cách.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét điều kiện, hoàn cảnh, khả năng của các bên cũng như như cầu về mặt vật chất, tinh thần, nguyện vọng của các cháu. Đồng thời trên thực tế việc nuôi dạy, chăm sóc và học tập của các cháu từ trước đến nay đều do bà H chăm lo, bà H là phụ nữ với thiên chức làm mẹ, có điều kiện nuôi dưỡng con phát triển toàn diện hơn với lứa tuổi này. Mặt khác khoảng cách về tuổi của 02 cháu cũng không lớn (cách nhau 02 tuổi) và đã sống cùng nhau từ nhỏ, do đó việc để hai cháu sống cùng nhau là cần thiết, vừa để các cháu phát triển bình thường về tinh thần, không bị xáo trộn về mặt tâm lý, vừa tạo điều kiện để các cháu bồi đắp tình cảm anh em. Do vậy, Tòa cấp sơ thẩm xem xét giao cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con là có cơ sở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng, ông K yêu cầu được nuôi cháu H (sinh năm 2006) và đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi cháu C là 2.000.000 đồng/tháng. Như vậy cho thấy ông K có đủ điều kiện để cấp dưỡng nuôi 02 con với mức 2.000.000 đồng/tháng, mức cấp dưỡng này là không cao so với chi phí trung bình cho một đứa trẻ từ 11-13 tuổi tại địa bàn huyện L, đúng quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử tuyên buộc ông K cấp dưỡng nuôi hai con với mức 2.000.000 đồng/tháng là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, kháng cáo của ông K là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Ông K phải nộp án phí phúc thẩm 300.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quan điểm của đại diện VKSND Tỉnh tại phiên tòa là có căn cứ. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn K. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2017/HNGĐ-ST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, như sau:

- Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn K. 

- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 28/3/2006 và Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/02/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi. Buộc ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi hai con là 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 5/2017.

Ông Nguyễn Văn K được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002803 ngày 28/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, nên bà H đã nộp xong.

Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 ngàn đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nếu bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm trả, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 6A, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004415 ngày 09/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Như vậy ông K đã nộp xong.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 20 tháng 7 năm 2017.


150
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về