Bản án 101/2020/HSST ngày 20/07/2020 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BTỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 101/2020/HSST NGÀY 20/07/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2020/HSST-QĐ ngày 06/7/2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm H N, sinh năm 1994, Giới tính: Nữ.

- Tên gọi khác: Không.

- Đăng ký HKTT: Tổ 16, Khu 2, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh:

- Chỗ ở: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam;  Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Kinh doanh;  Văn hoá: 9/12.

- Con ông: Phạm H V, sinh năm 1972.

- Con bà: Nguyễn B T, sinh năm 1975.

- Bị cáo là con duy nhất:

- CH: Nguyễn Quang H, sinh năm 1988 (đã ly hôn).

- Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010).

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2019 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa) * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị La Thị Đ (tức H), sinh năm 1987. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai.

2. Chị Mai Thị B, sinh năm 1984. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang.

3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995. (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Anh Nguyễn Phúc T sinh năm 1996. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

5. Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993. (Có mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

6. Chị Lục Thị Đ (tức P), sinh năm 1973. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang.

7. Anh Dương Minh T, sinh năm 1979. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

8. Chị Hoàng Thị H sinh năm 1971. (Vắng mặt) Địa chỉ: Số nhà 05, ngõ 132, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

9. Chị Trần Thị D, sinh năm 1994. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

10. Ông Trần Thanh B, sinh năm 1969. (Vắng mặt) Địa chỉ: Số nhà 250, đường L. phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

1. Chị Thành Thị Y, sinh năm 1995. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Trần Thị T, sinh năm 1991. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm H N, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang là chủ quán Café nước giải khát tại số 20, đường V, thôn B, xã T, thành phố B, có đăng ký kinh doanh. Quá T kinh doanh, N thuê 02 nhân viên phục vụ là La Thị Đ (tức H), sinh năm 1987, trú tại thôn Bẻ 2, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai và Mai Thị B, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã Trung Thành, huyện V, tỉnh Hà Giang, tại quán của N còn có Lục Thị Đ (tức Lục Thị P) là người quen của N đến chơi. N, Đ, B và D ăn, ở, sinh hoạt tại quán. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/12/2019, Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Nguyễn Phúc T1, sinh năm 1996, trú tại thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đi taxi đến quán cafe của Phạm H N. T và T1 cùng đi vào bên trong quán thì có N, B và Đ đang ngồi trên ghế sofa của quán. Thấy vậy, T hỏi N “có bán cafe không”, N trả lời “không, đi khách thì có”. T hiểu ý N nói là tại quán có nhân viên bán dâm, T hỏi N “Có nhân viên đi qua đêm không”, N trả lời “có, giá qua đêm tại quán là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), qua đêm tại nhà nghỉ là 1.000.000 đồng (một triệu đồng)”. T quay sang hỏi và thống nhất với T1, hai người sẽ mua dâm tại nhà nghỉ. Thỏa thuận xong, T đưa cho N số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), trong đó, có 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. N nhận tiền rồi bảo B và Đ đi bán dâm cho T và T1. B và Đ đồng ý. B mang theo 03 chiếc bao cao su nhãn hiệu “Vip”, Đ mang theo 04 chiếc bao cao su nhãn hiệu “Vip”. Ngay sau đó, N đi ra cửa quán gọi Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã T, thành phố B (là người chung sống với N như vợ chồng ) chở B, Đ, T, T1 đến nhà nghỉ “TT” tại địa chỉ thôn B, xã T, thành phố B. H đồng ý, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B2-887.58 chở T và B đến nhà nghỉ TT trước, sau đó quay lại tiếp tục chở T1 và Đ. Tại nhà nghỉ TT, T và B thuê phòng 306, còn T1 và Đ thuê phòng 307 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến 01 giờ 05 phút ngày 21/12/2019, Công an thành phố B tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ TT phát hiện hành vi mua bán dâm của Nguyễn Văn T và Mai Thị B tại phòng số 306; Nguyễn Phúc T1 và La Thị Đ tại phòng số 307. Kết quả kiểm tra thu giữ:

- Tại phòng 306: 01 bao cao su đã qua sử dụng (được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu 306) và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa qua sử dụng:

- Tại phòng 307: 02 bao cao su đã qua sử dụng (được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu 307) và 02 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa qua sử dụng.

Tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus mầu vàng.

Căn cứ lời khai của các đối tượng mua, bán dâm, ngày 21/12/2019, Cơ quan điều tra ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm H N, tại đường Võ Nguyên Giáp, thôn B, xã T, thành phố B, phát hiện thu giữ:

- Thu giữ của Phạm H N: số tiền 1.850.000 đồng, trong đó có 09 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (có ghi lại số seri của các tờ tiền), 01 điện thoại Iphone 6 plus, 35 bao cao su chưa qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58:

- Thu giữ của Lục Thị Đ (tức P), sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang đang ngủ tại nhà N số tiền 3.481.000 đồng (có ghi lại các seri của từng tờ tiền) và 01 ví da mầu đen.

Cùng ngày 21/12/2019, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm H N.

Ngày 21/12/2019, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định ADN trong những bao cao su đã qua sử dụng thu giữ tại phòng 306, 307 nhà nghỉ TT. Tại kết luận giám định pháp y về AND số 20/20/TC-ADN ngày 30/12/2019 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận:

- ADN thu từ chiếc bao cao su trong phong bì thư ký hiệu “306” trùng với ADN của Nguyễn Văn T. Không phát hiện được ADN của Mai Thị B trên chiếc bao cao su trong phong bì ký hiệu “306”.

- Trên 2 chiếc bao cao su trong phong bì ký hiệu “307” có hiện diện ADN của Nguyễn Phúc T1 và La Thị Đ.

Cơ quan giám định không hoàn lại 03 bao cao su đã qua sử dụng sau khi có kết quả giám định.

Ngày 27/12/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường tại quán cafe của Phạm H N. Đến ngày 16/5/2020, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1, Nguyễn Hữu H thực nghiệm lại hành vi trao đổi mua dâm đối với Phạm H N, việc N bảo H chở các đối tượng đến nhà nghỉ TT để mua, bán dâm. Kết quả các đối tượng đều thực hiện hành vi của mình, phù hợp với lời khai trong quá T điều tra.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn T, thu giữ một ảnh chụp 06 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Trong đó, có 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri trùng với 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng thu giữ của N; 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số seri trùng với 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thu giữ của D (P). Tại bản Kết luận giám định số 59/C09-P6, ngày 04/02/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong tệp ảnh chụp các tờ tiền của điện thoại gửi giám định. Thời gian tệp ảnh được chụp vào hồi 23 giờ 16 phút ngày 20/12/2019. T khai nhận trước khi vào quán cafe của N, T có tự chụp ảnh các tờ tiền trên lưu trong máy điện thoại, mục đích đưa lên mạng xã hội để câu like.

Quá T điều tra, Phạm H N không thừa nhận hành vi môi giới mại dâm. Cơ quan điều tra đã cho Đ, T, T1, H đối chất với N nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Lời khai của những người liên quan là Mai Thị B, La Thị Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1, Nguyễn Hữu H, Lục Thị Đ (P) phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi mua, bán dâm của Mai Thị B, La Thị Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1, Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với Nguyễn Hữu H, là người được N nhờ chở B, Đ, T, Thẩm đến nhà nghỉ TT, Hải không biết hành vi mục đích của N nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lục Thị Đ (P) quá T điều tra D khai nhận ngày 20/12/2019, D không biết việc N môi giới mại dâm, đến khoảng 0 giờ ngày 21/12/2019, N có đưa cho D 1.000.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) nhưng không nói cho D biết nguồn gốc số tiền trên do đâu mà có nên không có căn cứ để xử lý D.

Quá T điều tra xác định nhà nghỉ TT do anh Dương Minh T, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã T, thành phố B đứng tên đăng ký kinh doanh. Anh T không biết việc các đối tượng thuê phòng nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58 thu giữ của N. Quá T điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của N, thường ngày N cho Hải mượn chiếc xe trên để đi lại. Cơ quan điều tra đã nhập kho chiếc xe trên để xử lý theo quy định.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus mầu vàng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 98B2-887.58, 01 ví da mầu đen đã qua sử dụng, số tiền 1.850.000 đồng (thu giữ của N), số tiền 3.481.000 (thu giữ của D), 39 bao cao su chưa qua sử dụng nhãn hiệu Vip, 03 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng. Tất cả được nhập kho vật chứng để xử lý.

Do vắng mặt những người liên quan nên Thẩm phán công bố lời khai của Mai Thị B, La Thị Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 12/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Phạm H N về tội “Môi giới mại dâm” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội tranh luận như sau: Giữ nguyên nội dung cáo trạng; Đính chính phần lý lịch tên mẹ của bị cáo Phạm H N là bà Nguyễn B Thủy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, p khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm H N từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2019.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của Phạm H N là 2.000.000 đồng; (trong đó có số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của N, 1.000.000 đồng thu giữ của D).

- Trả lại cho Phạm H N 01 điện thoại Iphone 6 plus, 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58 và số tiền 850.000 đồng:

- Trả lại cho Lục Thị Đ (tức P) số tiền 2.481.000 đồng và 01 ví da mầu đen.

- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng.

- Tịch thu tiêu hủy: 39 bao cao su chưa qua sử dụng nhãn hiệu Vip, 03 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip:

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người khuyết tật nặng không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm H N.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự do là người khuyết tật.

Quá T điều tra bị cáo không nhận tội, tuy nhiên sau khi Kiểm sát viện T bầy luận tội thì bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Phạm H N nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá T điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, T tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá T điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá T điều tra, Phạm H N không thừa nhận hành vi môi giới mại dâm. Cơ quan điều tra đã cho Đ, T, T1, H đối chất với N. Lời khai của những người liên quan là Mai Thị B, La Thị Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1, Nguyễn Hữu H, Lục Thị Đ (P) phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa Nguyễn Hữu H đã khai nhận mình được N trực tiếp thuê đi trở T, Thẩm, Đ, B đi nhà nghỉ TT, đủ cơ sở để xác định Phạm H N đã có hành vi môi giới Mai Thị B, La Thị Đ bán dâm cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Phúc T1 ngày 20/12/2019.

Tại phiên Tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và kết luận giám định thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Phạm H N, sinh năm 1994, là chủ quán cafe, nước giải khát địa chỉ tại đường V, thôn B, xã T, thành phố B. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/12/2019, N đã nhận 02 triệu đồng của Nguyễn Văn T để môi giới La Thị Đ bán dâm cho Nguyễn Phúc T1; Mai Thị B bán dâm cho Nguyễn Văn T. N có nhờ Nguyễn Hữu H chở T, Thẩm, Đ, B đến nhà nghỉ TT, thuộc thôn 3, xã T, thành phố B để thực hiện hành vi mua, bán dâm thì bị Tổ công tác của Công an thành phố kiểm tra hành chính phát hiện. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi mại dâm tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, huỷ hoại nhân cách con người, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, cá nhân, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra bị cáo không nhận tội, nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người khuyết tật nặng nên cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng:

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của Phạm H N là 2.000.000 đồng (trong đó có số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của N, 1.000.000 đồng thu giữ của D).

- Trả lại cho Phạm H N 01 điện thoại Iphone 6 plus và số tiền 850.000 đồng do không liên quan tới hành vi phạm tội.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58, bị cáo cho H mượn để H hành nghề chở xe ôm kiếm thêm thu nhập. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/12/2019 N có thuê Nguyễn Hữu H chở T, T1, Đ, B đến nhà nghỉ TT, thuộc thôn 3, xã T, thành phố B để thực hiện hành vi mua bán dâm, bản thân H không biết việc N môi giới mại dâm. Hải trở khách đến nhà nghỉ TT có thu tiền của N nên chiếc xe mô tô Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58 không liên quan tới việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo N.

- Trả lại cho Lục Thị Đ (tức P) số tiền 2.481.000 đồng và 01 ví da mầu đen do không liên quan tới hành vi phạm tội.

- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng do không liên quan tới hành vi phạm tội.

- Trả lại cho Phạm H N 01 điện thoại Iphone 6 plus, - Tịch thu tiêu hủy: 39 bao cao su chưa qua sử dụng nhãn hiệu Vip, 03 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip:

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người khuyết tật nặng không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm H N.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ do là người khuyết tật. Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Phạm H N phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 328; điểm s, p khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm H N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2019.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lời bất chính của Phạm H N là 2.000.000 đồng; (trong đó có số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của N, 1.000.000 đồng thu giữ của D).

- Trả lại cho Phạm H N 01 điện thoại Iphone 6 plus, 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, Biển kiểm soát 98B2-887.58 và số tiền 850.000 đồng:

- Trả lại cho Lục Thị Đ (tức P) số tiền 2.481.000 đồng và 01 ví da mầu đen.

- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng.

- Tịch thu tiêu hủy: 39 bao cao su chưa qua sử dụng nhãn hiệu Vip, 03 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip:

3. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm H N.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2020/HSST ngày 20/07/2020 về tội môi giới mại dâm

Số hiệu:101/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về