Bản án 101/2020/HS-ST ngày 02/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 101/2020/HS-ST NGÀY 02/06/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 02 tháng 6 năm 2020. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

* Họ và tên Lâm Phong V, sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: Đường R R, Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Như trên. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn G và bà Phạm Thị L; Vợ: Nguyễn Thị H, Con: 01 người, sinh năm 2002; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, ngày 05/12/2019, bị Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Nộp phạt ngày 06/12/2019.

Về nhân thân:

-Tại bản số 07/HS-ST ngày 24/12/2001 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong phần án phí ngày 22/10/2008.

-Tại bản án số 66/ST-HS ngày 16/6/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo 12 tháng tù, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tại bản án số 61/HS-PT ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 10/3/2005. Chấp hành xong phần án phí ngày 29/10/2004.

-Tại bản số 221/HS-ST ngày 11/11/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/10/2008. Chấp hành xong phần án phí ngày 26/9/2008.

-Tại bản số 39/HS-ST ngày 29/9/2009 củaTòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu và bản án số 149/2009/HSPT ngày 25/12/2009 của Tòa nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xử phạt Lâm Phong V 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2013. Chấp hành xong phần án phí ngày 26/02/2010.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2020 cho đến nay.

Bị cáo bị giam có mặt.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số , đường P, Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/01/2020, Lâm Phong V đang điều khiển xe mô tô biển số 69B1- 401.29 chạy trên đường Phan Ngọc Hiển để về phường 7 mua đồ ăn. Nhưng đến nhà số 02B, đường Phan Ngọc Hiển, khóm 2, phường 5, thành phố Cà Mau do bị xẹp bánh xe nên V dừng lại để kiểm tra.

Sau đó, V thấy bà Nguyễn Thị B đang bán vé số, Vinh kêu bà B đến cùng ngồi vào ghế đá , tại nhà số 02B, P, Khóm 2, phường 5, thành phố Cà Mau và kêu bà B đưa cho V vé số. Bà B đưa sắp vé số 300 tờ thuộc Đài Sóc Trăng, mở thưởng ngày 08/01/2020. Khi V lựa vé số thì V nảy sinh ý định trộm vé số của bà B. Nghĩ vậy, V lén lấy 85 tờ vé số để xuống ghế đá và dùng đùi trái của mình đè lên. Sau đó, V chọn 04 tờ vé số mua hết 40.000 đồng, còn lại trả vé số cho bà B. Bà B nhận được vé số rồi về nhà. Khi bà B đi khỏi thì V lấy vé số trộm được bỏ vào túi quần rồi lên xe chạy đi. Sau khi về nhà, bà B kiểm tra lại thì phát hiện mất 85 tờ vé số, nên đến trình báo với Công an phường 5. Công an phường 5 tiến hành trích xuất camera xác định chính V trộm vé số của bà B. Vé số này, V đã dò nhưng không trúng nên V vứt bỏ.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 20/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau kết luận: 85 tờ vé số kiến thiết đài Sóc Trăng có trị giá là: 85 tờ vé số x 10.000 đồng = 850.000 đồng. ) Ngày 14/01/2020. Nguyễn Thị H (vợ V) đã nộp 850.000 đồng và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trao trả cho bà B, hiện bà B không có yêu cầu thêm. ( 78 – 79, 85 -86 ) Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Phong V theo cáo trạng số: 109/CT-VKS ngày 06/5/2020 và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Phong V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm p, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. (khoản 2 Điều 51 do bị cáo có cha vợ là ông Nguyễn P T được cấp Giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học).

Xử phạt bị cáo Lâm Phong V từ 15 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị B, tại khu vực khóm 2, phường 5, thành phố Cà Mau với giá trị tài sản là 850.000 đồng. Bị cáo thực hiện với hành vi lỗi cố ý trực tiếp, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, đối chiếu các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Phong V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Nên cáo trạng truy tố bị cáo Lâm Phong V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 1 Điều 173 của bộ Luật hình sự là đúng pháp luật không oan cho bị cáo.

[3] Xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì lười lao động, muốn hưởng thụ trên công sức của người khác, nên bị cáo lao vào con đường phạm tội.

[4] Xét về nhân thân bị cáo có nhân thân rất xấu về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngoài ra bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Cho thấy bị cáo là người có đủ nhận thức biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể các lần phạm tội trước của bị cáo đều nhằm vào bị hại là những đối tượng bán vé số, cho nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo phải bị pháp luật trừng trị và cần cho bị cáo có thời gian để được giáo dục, cải tạo trở thành người tốt có ích cho xã hội sau này.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có tác động gia đình để trả tài sản cho bị hại, bị hại đã nhận tài sản không yêu cầu gì thêm, đối chiếu với quy định của pháp luật tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Tại phiên tòa Đại diện Viên kiểm sát đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự, đối chiếu với tình tiết quy định tại Khoản 2 thì cha vợ không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này (Quy định tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại. Hiện bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm phần bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[6] Áp dụng Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Phong V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Phong V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 27/02/2020.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (chưa nộp).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


93
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về