Bản án 100/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 100/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2018 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồ Phương Qu, sinh năm 1993(Có mặt); Địa chỉ: Tổ 31/2 ấp H, xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long A; Bị đơn: Ah Võ Hoài A, sinh năm 1992 (Có mặt);

Địa chỉ: 07 Ấp D, xã TL, huyện Đ, tỉnh Long A.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/4/2018, tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Qu trình bày:

Chị Qu và Ah Võ Hoài A cưới nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Đ, tỉnh Long A vào ngày 20/3/2015, do tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung với gia đình chồng, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ gần cuối năm 2017, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, xích mích do anh A có tính gia trưởng, thường xuyên ăn nhậu về kiếm cớ đánh đập, chửi mắng chị. Chị cũng có khuyên ngăn Nều lần nhưng anh A không thay đổi. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 02 năm 2018. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh A.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Võ Ngọc Uyên N, sinh ngày21/01/2016. Từ khi chị và anh A ly thân thì con chung ở với chị nhưng đến ngày 30/7/2018 anh A rước con về nội ăn đám giỗ thì giữ con lại nuôi luôn và không cho chị đưa rước con về nữa. Hiện con chung đang ở với anh A. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu anh A giao con cho chị được quyền nuôi dưỡng, và chị không yêu cầu anhA phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại chị đang làm công nhân, đi làm từ 7 giờ đến16 giờ, thu nhập trung bình hàng tháng trên 6.000.000 đồng . Nếu chị được quyền nuôi con thì nhờ mẹ ruột chăm sóc con và chị cũng đang ở chung nhà với mẹ ruột.

Về chia tài sản: Không có tài sản chung. Nợ chung: Không có nợ chung.

Bị đơn anh Võ Hoài A có lời trình bày tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa như sau: Về quA hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn, con chung, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn như chị Qu trình bày là đúng. Anh có uống rượu, bia nhưng chỉ thỉnh thoảng chứ không phải thường xuyên ăn nhậu như chị Qu trình bày. Anh đã nhận ra sai lầm của mình nên đã xin lỗi chị Qu và gia đình bên vợ Nều lần và đã từ bỏ rượu bia. Nay chị Qu khởi kiện xin ly hôn thì anh không đồng ý vì vẫn còn thương vợ con và mong muốn được đoàn tụ để chăm sóc con.

Về con chung: Có 01 người con chung đúng như chị Qu trình bày. Hiện nay anh đang chăm sóc con. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh cũng có yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu chị Qu cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh đang làm công nhân, làm từ 8 giờ đến 17 giờ, thu nhập trung bình hàng tháng trên 7.000.000 đồng. Nếu anh được quyền nuôi con thì nhờ cha ruột chăm sóc con, còn mẹ anh thì đang buôn bán nhưng cũng thường xuyên nghỉ bán ở nhà và anh cũng đang sống chung nhà với cha mẹ ruột..

Về chia tài sản: Không có tài sản chung.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã công bố cho các đương sự; căn cứ lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa và kết quả trAh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Qu và Ah A là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại các Điều 28,35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Chị Qu và anh A cưới nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Đ, Giấy CNĐKKH số 32/2015, Quyển số 1/2015 ngày 20/3/2015, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống bên gia đình cha mẹ của anh A. Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ gần cuối năm 2017, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, xích mích do anh A tính tình gia trưởng, thường xuyên uống rượu bia về kiếm cớ đánh đập, chửi mắng chị Qu. Chị Qu cũng có khuyên ngăn Nều lần nhưng anh A không thay đổi vợ chồng chính thức ly than từ tháng 2/2018.

Anh A trình bày còn thương yêu chị Qu và đề nghị cho thêm thời gian để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng không đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa, chị Qu cương quyết yêu cầu xin được ly hôn với anh A vì với bản tính cộc cằn, gia trưởng của anh A thì chị không thể có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ cả chồng lẫn vợ, nhưng tình cảm của chị Qu dành cho anh A đã hết. Thời gian chị Qu và anh A sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay, hai vợ chồng không chung sống gần gũi nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không chia sẻ cùng nhau là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng trong thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được; việc kéo dài thời gian hôn nhân giữa chị Qu và anh A không mang lại hạnh phúc cho hai người và không thể hàn gắn được,nên cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quyên. Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân Gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2.2] Về con chung: Chị Qu và anh A có 01 người con chung tên Võ Ngọc Uyên N, sinh ngày 21/01/2016, cả hai đều yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện, hoàn cảnh và khả năng tài chính của anh A và chị Qu tương đương nhau. Hiện tại cháu Uyên N dưới 36 tháng tuổi. Tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Qu về việc yêu cầu nuôi cháu Uyên N ; không chấp nhận yêu cầu của Anh A nuôi cháu Uyên N.Do đó buộc Anh A phải giao cháu tên Võ Ngọc Uyên N, sinh ngày 21/01/2016 cho chị Qu nuôi. Anh A được quyền thăm nom chăm sóc conchung.Việc thăm nom chăm sóc con được thực hiện theo điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con : Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, nhưng chị Qu không yêu cấu anh A câp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.

[2.4] Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không đề cập.

[2.5] Về nợ chung: Không có nên không đề cập.

[2.6] Về án phí: Chị Nguyễn Hồ Phương Qu phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩmtheo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Hồ Phương Qu:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồ Phương Qu được ly hôn với anh Võ Hoài A.

Về con chung: Buộc Anh Võ Hoài A phải giao con chung tên Võ Ngọc Uyên N, sinh ngày 21/01/2016 cho chị Nguyễn Hồ Phương Qu nuôi. Anh A được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Chị Nguyễn Hồ Phương Qu phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000958 ngày 03/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long A, chị Qu đã nộp đủ án phí. Ah Võ Hoài A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từngày tuyên án.


105
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 100/2018/HNGĐ-ST ngày 18/09/2018 về ly hôn và nuôi con

Số hiệu:100/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Đước - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về