Bản án 09/2021/HSST ngày 04/02/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 09/2021/HSST NGÀY 04/02/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh D, sinh năm 1979 tại thành phố H; hộ khẩu thường trú: Số 13/10/2 đường C, phường 6, quận T, thành phố H; đăng ký tạm trú và sinh sống tại: Tổ 27, ấp X, xã X, huyện C, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá:

8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Kim D; có vợ tên là Huỳnh Thị Bảo Y; con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 1095/HSST, ngày 20/8/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 02 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản:

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-6-2020 đến ngày 11-6-2020 sau đó được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú cho đến ngày xét xử; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại khu vực ấp Liên Lộc, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy, Công an huyện Châu Đức phối hợp với phòng CSGT Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Anh D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ được gồm: 01 bịch Nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, Nguyễn Anh D khai nhận đó là 01 bịch ma túy tổng hợp (dạng đá), 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen viền xanh, 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 55P5-5431 và số tiền 1.290.000đ. (Bút lục số 11-12).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Anh D khai nhận như sau: Vào khoảng 7 giờ 30 phút ngày 02 tháng 6 năm 2020, Nguyễn Anh D điều khiển xe máy hiệu Honda Airblade màu xanh đen biển số 55P5-5431 đi từ nhà D tại ấp X, xã X, huyện C, tỉnh B lên thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đến khu vực Phà Cát Lái thuộc Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh thì D điện thoại cho một người thanh niên tên T (D không biết họ tên, địa chỉ) để mua ma túy. Tính hẹn D đến khu vực đường Âu Cơ, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh để mua bán. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, D đến chỗ hẹn và điện thoại cho T. Tại đây, D đưa Tính số tiền 3.000.000đ, T cầm tiền rồi đi. Khoảng 20 phút sau, T quay lại đưa D 01 bịch ma túy đá. Sau khi mua được ma túy đá, D bỏ trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe về nhà tại ấp X, xã X, huyện C, tỉnh B. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi D về tới khu vực ấp Lên Lộc, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số tang vật như trên.

Tại bản kết luận giám định số 239/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 9 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định : Mẫu chất kết tinh không màu – trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an xã Xà Bang – Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Quang Hùng, Mai Phong Vũ, Nguyễn Vũ Đức, Nguyễn Anh D, Nguyễn Đặng Minh Khoa gửi đến giám định có khối lượng 4,0764 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine (Bút lục số 53).

Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định được đánh số 239 ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen viền xanh, có số IMEI 1: 866635024269637, số IMEI 2: 866635027019633, 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 55P5-5431, số máy: E- 5443089, số khung: Y-833702 và 01 đăng ký mô tô, xe máy số: 053875 mang tên Nguyễn Anh D được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý, chờ xử lý.

Đối với số tiền 1.290.000đ, bị cáo D khai nhận đó là số tiền của D để tiêu dùng hàng ngày, không sử dụng mua ma túy nên ngày 8/10/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Đức đã trả lại số tiền 1.290.000đ cho bị cáo D.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 05-01-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố bị cáo Nguyễn Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Anh D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Anh D từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh D đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Anh D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 14 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại khu vực ấp Liên Lộc, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy, Công an huyện Châu Đức phối hợp với phòng CSGT Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành kiểm tra, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Anh D có hành vi tàng trữ trái phép 4,0764 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Bị cáo Nguyễn Anh D là công dân đã trưởng thành. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo biết rất rõ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về chất mà túy, gây mất trật tự án ninh toàn xã hội, bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Ma túy đã và đang gây tác hại xấu cho sức khỏe người sử dụng, làm suy thoái nòi giống.

Chỉ vì sử dụng các chất ma túy mà nhiều người dấn thân vào con đường tội lỗi để thỏa mãn cơn nghiện. Nhiều gia đình ly tán, tan gia, bại sản cũng chỉ vì ma túy. Nguy hiểm hơn, vì sử dụng ma túy đã làm cho nhiều người thân bại danh liệt, bị lây nhiễm HIV và một số bệnh lây truyền nguy hiểm khác. Thậm chí có nhiều trường hợp do sử dụng ma túy quá liều bị sốc thuốc dẫn đến tử vong. Nhưng vì ý thức coi thường kỷ cương pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải có một bản án thật nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đầu tranh phòng ngừa chung.

[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự khác đối với bị cáo để quyết định cho Nguyễn Anh D một mức hình phạt phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thâm xấu, 01 lần bị Tòa án kết án về tội cướp giật tài sản.

Như vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Anh D.

[5] Hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự để áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sông có ích cho gia đình, xã hội và bảo đảm tính răng đe, phòng ngừa tội phạm.

Vì Nguyễn Anh D là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Anh D.

[6] Đối với người tên T mà Nguyễn Anh D khai đã bán cho Nguyễn Anh D ma túy. Do thông tin về T không đầy đủ và rõ ràng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức sẽ tiếp tục điều tra và xử lý sau.

[7] Biện pháp tư pháp: 01 gói niêm phong, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định được đánh số 239 ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu hiệu Philips màu đen, viền xanh, có số IMEI 1: 866635024269637, số IMEI 2: 866635027019633, quá trình điều tra xác định đây là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với đối tượng tên T để hẹn mua ma túy nên là tài sản liên quan đến việc phạm tội, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu xung công quỹ nhà nước:

- 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 55P5-5431, số máy: E-5443089, số khung: Y-833702 và 01 đăng ký mô tô, xe máy số: 053875 mang tên Nguyễn Anh D, quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Anh D, được Nguyễn Anh D dùng để làm phương tiện di chuyển đến đia điểm mua ma túy và di chuyển mang ma tuy đã mua về, nên đây là tài sản mà bị cáo đã dùng để làm phương tiện phạm tội; do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu xung công quỹ nhà nước:

Các vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-01-2021.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước:

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Anh D 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2020 đến ngày 11/6/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định được đánh số 239 ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Tịch thu xung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu hiệu Philips màu đen, viền xanh, có số IMEI 1: 866635024269637, số IMEI 2:

866635027019633 thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh D:

Tịch thu xung công quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 55P5-5431, số máy: E-5443089, số khung: Y-833702 và 01 đăng ký mô tô, xe máy số: 053875 mang tên Nguyễn Anh D.

(Các vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 01 năm 2021.) Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04-02-2021). Bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


19
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 09/2021/HSST ngày 04/02/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

      Số hiệu:09/2021/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:04/02/2021
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về