Bản án 09/2020/DS-ST ngày 14/07/2020 về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền biêu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 09/2020/DS-ST NGÀY 14/07/2020 VỀ TRANH CHẤP NGHĨA VỤ THANH TOÁN TIỀN BIÊU

Ngày 14 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền biêu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST - DS ngày 01 tháng 06 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-DS ngày 23/06/2020; giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th Địa chỉ: Tổ dân phố k, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Bị đơn: Bà Huỳnh Thị B Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Phổ V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn Q Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bà Lê Thị Thu T - Bà Lê Thị Thu T1 - Ông Lê Hoài G - Ông Lê Hoài Đ

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bà Lê Thị Thu C Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 18/11/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/12/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày:

Vào năm 2013, bà Huỳnh Thị B cầm cái biêu (họ, hụi, phường), bà có tham gia chơi 03 dây biêu, mỗi dây biêu bà tham gia 01 chân biêu, hàng tháng đóng tiều biêu là 2.000.000 đồng của một chân biêu, cụ thể như sau :

- Dây biêu thứ 1: Ngày 20/04/2013, bà tham gia chơi 01 chân biêu, dây biêu này gồm có 17 người tham gia, hàng tháng bà đóng tiền biêu là 2.000.000 đồng, tiền lãi hàng tháng bà B trả cho bà là 300.000 đồng, dây biêu này bà đóng tiền biêu được 13 tháng với số tiền là 26.000.000 đồng.

- Dây biêu thứ 2: Ngày 20/9/2013, bà tham gia chơi 01 chân biêu, dây biêu này gồm có 17 người tham gia, hàng tháng bà đóng tiền biêu là 2.000.000 đồng, tiền lãi hàng tháng bà B trả cho bà là 200.000 đồng, dây biêu này bà đóng tiền biêu được 8 tháng với số tiền là 16.000.000 đồng.

- Dây biêu thứ 3: Ngày 20/10/2013, bà tham gia chơi 01 chân biêu, dây biêu này gồm có 17 người tham gia, hàng tháng bà đóng tiền biêu là 2.000.000 đồng, tiền lãi hàng tháng bà B trả cho bà là 200.000 đồng, dây biêu này bà đóng tiền biêu được 7 tháng với số tiền là 14.000.000 đồng.

Tổng số tiền 03 dây biêu bà đóng tiền biêu cho bà B là 56.000.000 đồng, các dây biêu bà chưa lĩnh tiền biêu. Sau đó bà B bỏ đi khỏi địa phương, bà cùng một số người khác có đơn tố cáo bà B gửi đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi, sau đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi triệu tập bà B về làm việc. Tai cơ quan cảnh sát điều tra giữa bà và bà B đối chiếu sổ ghi chép tiền biêu, khấu trừ tiền lãi và tiền bà B đã trả cho bà, số tiền còn lại bà B thừa nhận còn nợ bà số tiền 48.081.000 đồng, nên bà B viết giấy nợ bà số tiền trên và hẹn một năm trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, nhưng bà B chưa trả trả tiền cho bà. Nay bà yêu cầu bà Huỳnh Thi B có nghĩa vụ trả lại số tiền 48.081.000 đồng cho bà và ông Nguyễn Văn Q, không yêu cầu tính lãi suất.

* Bị đơn : Bà Huỳnh Thị B không có lời trình bày.

* Tại biên bản làm việc ngày 15/10/2019, ngày 01/11/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông hoàn toàn thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Th, ông không có ý kiến gì thêm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thu T, bà Lê Thị Thu T1, ông Lê Hoài G, ông Lê Hoài Đ, bà Lê Thị Thu C không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự.

+ Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.

+ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật tố tụng Dân sự; bà Lê Thị Thu T, bà Lê Thị Thu T1, ông Lê Hoài G, ông Lê Hoài Đ, bà Lê Thị Thu C chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật tố tụng Dân sự;

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 471, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 17, 24, 29 Nghị định số:  144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Th. Buộc bà Huỳnh Thị B phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Văn Q số tiền là 48.081.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Thị B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu T, bà Lê Thị Thu T1, ông Lê Hoài G, ông Lê Hoài Đ, bà Lê Thị Thu C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/12/2019, bà Nguyễn Thị Th yêu cầu bà Huỳnh Thị B trả lại số tiền 48.081.000 đồng theo giấy nợ tiền ngày 02/03/2016. Do đó Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Đòi lại tài sản”, nhưng quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ thấy rằng số tiền bà B nợ bà Th phát sinh từ giao dịch tiền biêu. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền biêu.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2013, bà Nguyễn Thị Th có tham gia chơi 03 dây biêu do bà Huỳnh Thị B làm chủ (dây biêu thứ nhất ngày 20/04/2013, dây biêu thứ hai ngày 20/9/2013, dây biêu thứ ba ngày 20/10/2013), mỗi dây biêu bà Th tham gia một chân biêu, hàng tháng đóng tiều biêu là 2.000.000 đồng của một chân biêu. Việc bà Th tham gia chơi biêu được bà B thừa nhận tại biên bản ghi lời khai bà Huỳnh Thị B ngày 10/12/2015 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, có căn cứ xác định năm 2013 giữa bà Th với bà Báu có xác lập quan hệ chơi biêu với nhau, bà B là chủ biêu, bà Th là thành viên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ thì “Trong trường hợp chủ họ đã thu các phần họ của các thành viên nhưng không giao cho thành viên được lĩnh họ thì theo yêu cầu của thành viên có quyền lĩnh họ, chủ họ phải giao các phần họ đã thu được cho thành viên đó và bồi thường thiệt hại nếu có”. Do không trả được tiền nợ biêu nên ngày 02/03/2016, giữa bà Th và bà B đã đối chiếu sổ biêu, sau khi khấu trừ tiền lãi của tiền biêu, tiền bà B đã trả, số tiền còn lại bà B viết giấy nợ bà Th là 48.081.000 đồng và hẹn một năm trả cho bà Th số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, nhưng từ khi viết giấy nhận nợ đến nay bà B không thực hiện đúng như đã thỏa thuận, nên đã vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, bà Th khởi kiện yêu cầu bà B có nghĩa vụ trả lại số tiền 48.081.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, việc bà B vay tổ chức cho nhiều người tham gia chơi biêu trong đó có bà Th, tại thời điểm đó ông Lê M chồng bà B còn sống, nay ông Lê M đã chết (chết ngày 7/8/2016), nhưng bà Th không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền bà B hưởng lợi từ việc làm chủ của các dây biêu vào mục đích để đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình, hơn nữa bà Th cũng thừa nhận ông Lê M là chồng và các con của bà B, ông M không tham gia vào việc cầm cái biêu và không yêu cầu trả nợ. Mặt khác, số tiền bà B nợ bà Th là tiền chung của bà Th và ông Q, nên Hội đồng xét xử buộc bà B phải có nghĩa vụ trả số tiền 48.081.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Văn Q.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị B phải chịu là 2.404.050 đồng, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị Th.

[5] Đề nghị của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015); Điều 29 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 (Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Th. Buộc bà Huỳnh Thị B phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Văn Q số tiền là 48.081.000đ (bốn mươi tám triêu, không trăm tám mươi mốt ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị B phải chịu 2.404.050 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại 1.202.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị Th theo biên lai thu tiền số AA/2018/0002762 ngày 07/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ).

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về