Bản án 09/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH B

BẢN ÁN 09/2019/HS-ST NGÀY 17/01/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở TAND thành phố B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2018/HSST ngày 11 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HS ngày 05/01/2019 đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN VĂN H, sinh năm 1996.

- Tên gọi khác: Không;

- Nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B.

- Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Không;

- Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975;

- Con bà: Lương Thị H, sinh năm 1977;

- Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất;

- Vợ: Trần Thị Ngọc C, sinh năm 1998;

- Con: Có 01 con sinh năm 2017;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B. 

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Thân Văn N, sinh năm 1996. (vắng mặt) Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Trú tại: Số nhà 78, đường T, tổ dân phố 2B, phường T, thành phố B, tỉnh B.

+ Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990. (Vắng mặt) Trú tại: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh B.

+ Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989. (Vắng mặt) Trú tại: Số nhà 19B, ngõ 189, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh B.

+ Anh Lương Văn C, sinh năm 1991. (Vắng mặt) Trú tại: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh B.

+ Chị Lương Thị H, sinh năm 1977. (Vắng mặt) Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H sinh năm 1996 trú tại thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B là đối tượng nghiện ma Ty và không có việc làm ổn định. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên buổi trưa ngày 19/9/2018, H hẹn gặp bạn là anh Lương Văn C, sinh năm 1991 trú tại thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh B tại ngã tư Quốc lộ 17 đường cao tốc Hà Nội- B gần khu công nghiệp Song Khê- Nội Hoàng hỏi mượn của anh C 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu sơn đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung C7 để mang đi găm cắm lấy tiền trả nợ. Do quen biết với H từ trước, nên anh C đồng ý cho H mượn số tài sản trên để đem đi găm cắm, đồng thời giao hẹn với H ngày hôm sau phải trả lại xe mô tô và điện thoại cho anh. Sau khi mượn được xe, H đem đi gắm cắm được 5.500.000 đồng và đã ăn tiêu cá nhân hết. Đến ngày 20/9/2018, do không có tiền để chuộc tài sản trả cho anh C, nên H đi lang thang mục đích tìm gặp vay, mượn tiền của bạn bè quen biết, nhưng H không vay mượn được của ai. Khoảng 12 giờ ngày 20/9/2018, khi đang ngồi uống nước một mình ở gần trường tiểu học Giáp H, thuộc xã Tân Mỹ, thành phố B thì H nhìn thấy anh Thân Văn N, sinh năm 1996 (là người cùng thôn và là bạn chơi với H từ nhỏ) một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn đen biển kiểm soát 98B2- 692.91 đi ngang qua. Ngay lúc này, H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên của anh N. Để thực hiện được mục đích, H đã gọi anh N vào quán uống nước và nói dối với anh N là cho H mượn chiếc xe mô tô để đi đón thêm bạn đến uống nước. Do tin tưởng H nên anh N đã giao chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 692.91 cho H. Sau khi được anh N giao xe, H một mình điều khiển xe mô tô đi đến hiệu cầm đồ của anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990 ở thôn P, xã T, huyện V. Tại đây, H gặp nhân viên của anh G là anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989 đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 19B, ngõ 189, đường X, phường N, thành phố B. H nói với anh T là muốn vay số tiền 7.000.000 đồng và có chiếc xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 98B2- 692.91 để lại để làm tin, hẹn đến chiều sẽ quay lại trả tiền, lấy xe. Do lúc này, anh G không có mặt tại hiệu cầm đồ, nên anh T đã gọi điện cho anh G để thông báo nội dung sự việc và được anh G đồng ý cho H vay 7.000.000 đồng. Sau đó, anh T giao 7.000.000 đồng, hai bên không viết giấy tờ gì. 

Số tiền này, H khai nhận đã dùng 5.600.000 đồng để chuộc lại xe máy và điện thoại, còn lại 1.400.000 đồng đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/9/2018, anh Thân Văn N làm đơn trình báo Công an thành phố B. Ngày 21/9/2018, H đến Công an thành phố B đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu đỏ đen đã qua sử dụng. Cùng ngày 21/9/2018, anh Nguyễn Văn G tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead kiểm soát 98B2- 692.91.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐG ngày 24/9/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn đen BKS: 98B2-692.91, số máy: JF45E0737483, số khung: 4513FY111096, xe đã qua sử dụng có giá trị là 30.000.000 đồng”.

Ngày 28/9/2018, Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Xuân T nhận dạng, kết quả, anh T nhận ra Nguyễn Văn H chính là người đã đi chiếc xe mô tô Honda Lead màu sơn đen biển kiểm soát 98B2- 692.91 đến hiệu cầm đồ Tuấn G để lại xe và vay 7.000.000 đồng của anh G vào chiều ngày 20/9/2018.

Quá trình điều tra, bà Lương Thị H là mẹ của Nguyễn Văn H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 7.000.000 đồng để trả lại cho anh Nguyễn Văn G khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của H gây ra. Ngày 06/11/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh G số tiền trên, đến nay anh G không yêu cầu bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 98B2- 692.91 đăng ký chính chủ xe mang tên bà Nguyễn Thị H là mẹ của anh Thân Văn N. Ngày 08/10/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà H. Đến nay, anh N, bà H không yêu cầu bồi thường dân sự.

Đối với anh Nguyễn Xuân T và anh Nguyễn Văn G có hành vi nhận cầm cố chiếc xe mô tô Honda Lead BKS: 98B2-692.91 và cho Nguyễn Văn H vay 7.000.000 đồng, nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên anh T và anh G không vi phạm pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn H mượn xe mô tô và điện thoại di động của anh Lương Văn C đem găm cắm trong ngày 19/9/2018 là thỏa thuận dân sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo nhận tội, khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Khoảng 12 giờ ngày 20/9/2018 tại địa bàn xã Tân Mỹ, thành phố B, Nguyễn Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn đen biển kiểm soát 98B2-692.91 có giá trị là 30.000.000 đồng của anh Thân Văn N, sinh năm 1996, trú tại thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2, Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn H từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/9/2018.

3, Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu đỏ đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4, Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người bị hại là anh Thân Văn N vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Lương Thị H, anh Nguyễn Văn G, anh Nguyễn Xuân T, anh Lương Văn C đều vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

[3]. Về tội danh: Khoảng 12 giờ ngày 20/9/2018 tại địa bàn xã Tân Mỹ, thành phố B, Nguyễn Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn đen, biển kiểm soát 98B2-692.91 có giá trị là 30.000.000 đồng của anh Thân Văn N, sinh năm 1996, trú tại thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh B. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở H về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả xảy ra. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

[6]. Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bà Lương Thị H là mẹ của Nguyễn Văn H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 7.000.000 đồng để trả lại cho anh Nguyễn Văn G khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của H gây ra. Ngày 06/11/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh G số tiền trên, đến nay anh G không yêu cầu bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/9/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel vỏ màu đỏ đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:09/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bạc Liêu - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về