Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L sinh năm 1983; Địa chỉ: Số nhà B, đường TQK, phố HT, phường NS, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Q sinh năm 1979; Địa chỉ: Số nhà B, đường TQK, phố HT, phường NS, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh, xã NV, huyện HL, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà có mặt chị L, vắng mặt anh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 21/02/2019, bản tự khai, lời khai tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ xuất trình, nguyên đơn (chị Hoàng Thị L) trình bày:

Chị và anh Phạm Văn Q được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bên nào bị ép buộc kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 21/3/2006 tại Uỷ ban nhân dân xã NS, thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị thuê nhà tại xã NS, thị xã Ninh Bình (nay là phường NS, thành phố Ninh Bình) để ở. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Phạm Văn Q không quan tâm đến vợ con, cờ bạc, nghiện ngập, mải chơi dẫn đến vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 20 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản và hiện đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn Q.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị Thanh V sinh ngày 11/11/2006 và Phạm Thị Kiều O sinh ngày 30/10/2010. Các cháu hiện do chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu anh Phạm Văn Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn (anh Phạm Văn Q) trình bày:

Về quá trình tìm hiểu kết hôn giữa anh và chị Hoàng Thị L đúng như chị L trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống hạnh phúc và sinh được hai con là Phạm Thị Thanh V sinh ngày 11/11/2006 và Phạm Thị Kiều O sinh ngày 30/10/2010. Nay, chị L có đơn xin ly hôn anh, anh không nhất trí ly hôn vì giữa anh và chị L không có mâu thuẫn về tình cảm. Anh đề nghị Tòa án Hòa giải để vợ chồng anh về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Trường hợp vợ chồng ly hôn anh xin được nuôi cháu Phạm Thị Kiều O.

Về tài sản, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành hòa giải để chị L, anh Q về đoàn tụ cùng nhau xây dựng gia đình nuôi dạy con cái nhưng không thành.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình phát biểu ý kiến:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tại phiên tòa bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

3. Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L, cho chị Hoàng Thị L ly hôn với anh Phạm Văn Q.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thanh V sinh ngày 11/11/2006 và Phạm Thị Kiều O sinh ngày 30/10/2010 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phạm Văn Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Hoàng Thị L.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Anh Phạm Văn Q vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa để xét xử vụ án.

[2] Về Ly hôn: Chị Hoàng Thị L và anh Phạm Văn Q kết hôn ngày 21/3/2006 tại Uỷ ban nhân dân xã NS, thị xã Ninh Bình theo đúng quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo chị L trình bày, chị và anh Q chung sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Q không quan tâm đến vợ con, mải chơi, cờ bạc, nghiện ngập dẫn đến vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 20 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản và hiện đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh. Anh Q cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn về tình cảm. Lời khai của chị L, anh Q và tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập là bản án số 93/2018/HS-ST ngày 23/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình và bản án số 37/2018/HS-PT ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình thể hiện anh Phạm Văn Q bị Tòa án tuyên bố phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và bị phạt 20 tháng tù và hiện đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh.

Xét thấy: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Phạm Văn Q đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng anh về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Tòa án đã phối hợp với Ban giám thị Trại giam Ninh Khánh tổ chức phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tại Trại giam Ninh Khánh nơi anh Q đang chấp hành án để giúp anh chị hàn gắn tình cảm, vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành như đề nghị của anh Q. Nhưng tại phiên hòa giải, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục được nữa. Anh Q xin đoàn tụ nhưng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình chung sống anh không tu dưỡng rèn luyện, làm tấm gương tốt cho các con học tập, làm chỗ dựa cho chị L và các con mà có hành vi vi phạm pháp pháp luật và hiện đang phải chấp hành án tại trại giam. Điều đó chứng tỏ vợ chồng anh chị có mâu thuẫn đúng như chị L trình bày. Như vậy, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đề nghị xin ly hôn của chị Hoàng Thị L là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Phạm Văn Q có hai con chung là Phạm Thị Thanh V sinh ngày 11/11/2006 và Phạm Thị Kiều O sinh ngày 30/10/2010. Trường hợp Tòa án cho anh chị ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị. Anh Q có nguyện vọng nuôi cháu Phạm Thị Kiều O. Tòa án tiến hành lấy lời khai cháu Phạm Thị Thanh V và Phạm Thị Kiều O, cả hai cháu có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy, đề nghị của anh Q là hoàn toàn chính đáng, việc chăm sóc nuôi dưỡng con là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Song trên thực tế, anh Q đang phải chấp hành án trong trại, do đó anh Q chưa đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Nếu sau khi chấp hành án xong, anh Q có đủ điều kiện và vẫn có nguyện vọng nuôi con chung, anh có quyền đề nghị tòa án xem xét giải quyết bằng vụ án khác. Căn cứ Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của chị L là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Tại phiên toà, chị L tiếp tục không đề nghị anh Q phải cấp dưỡng nuôi con. Toà án đã giải thích các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không trực tiếp nuôi con nhưng chị L vẫn giữ nguyên quan điểm không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L khẳng định thu nhập của chị ổn định và đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống của hai cháu. Xét đề nghị của chị L là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Do không có yêu cầu của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 19; khoản 1 các Điều 51, Điều 54; Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L, cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Phạm Văn Q.

2. Về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con khi ly hôn: Giao cháu Phạm Thị Thanh V sinh ngày 11/11/2006 và Phạm Thị Kiều O sinh ngày 30/10/2010 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, tự lập được cuộc sống. Anh Phạm Văn Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Hoàng Thị L.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001070 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình. Chị L đã nộp đủ.

Chị Hoàng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2019). Anh Phạm Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


89
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 24/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về