Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 14/01/2019 về ly hôn, con chung khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/01/2019 VỀ LY HÔN, CON CHUNG KHI LY HÔN

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 614/2018/TLST-HNGĐ ngày 30/8/2018 về việc “Ly hôn, con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án xét xử số 506/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm: 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Kiều T, sinh năm: 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 30/8/2018 và các lời khai tại tòa nguyên đơn anh Trần Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng năm 2008, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Anh N và chị T sống với nhau được 01 thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, sống không hạnh phúc. Anh N và chị T sống ly thân năm 2015 đến nay. Anh N xác định không thể đoàn tụ nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T có 02 con chung tên Trần Chí N, sinh ngày 10/12/2009; Trần Thị C, sinh ngày 10/8/2013 đang sống với chị T. Anh N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tại Đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện ngày 27/11/2018 anh N xin rút lại phần yêu cầu về con chung, con chung tự thỏa thuận.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với chị T nhưng chị T vẫn vắng mặt và không gởi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Kiều T có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, nguyên đơn anh Trần Văn N khởi kiện xin ly hôn với chị T nên Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28 và 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đối với chị Nguyễn Kiều T nhưng chị T vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là phù hợp với quy định.

[2] Xét về hôn nhân: Anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T chung sống với nhau như vợ chồng năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Được thể hiện tại xác nhận ngày 30 tháng 8 năm 2018 của Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây Bắc thì thể hiện hôn nhân giữa anh N và chị T không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T. Xét thấy hôn nhân giữa Anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không có đăng ký kết hôn là không tuân thủ theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do đó pháp luật không công nhận mối quan hệ giữa anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T là vợ chồng.

[3] Xét về con chung: Anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T có 02 con chung tên Trần Chí Nhớ, sinh ngày 10/12/2009; Trần Thị C, sinh ngày 10/8/2013 đang sống với chị T. Anh N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại Đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện ngày 27/11/2018 cũng như tại phiên tòa anh N xin rút lại phần yêu cầu về con chung, con chung tự thỏa thuận. Xét thấy việc anh N rút yêu cầu về con chung là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 217, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu của anh N về con chung.

[4] Xét về tài sản chung, nợ chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 217, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa anh Trần Văn N và chị Nguyễn Kiều T là vợ chồng.

Về con chung: Đình chỉ yêu cầu của anh Trần Văn N yêu cầu về con chung. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình anh Trần Văn N phải chịu 300.000 đồng. Anh N có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008612 ngày 30/8/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


103
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 14/01/2019 về ly hôn, con chung khi ly hôn

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về