Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 02/04/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị N và anh T

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/04/2019 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON GIỮA CHỊ N VÀ ANH T

Trong ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2019/TLST-HNGĐ, ngày 13/02/2019 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐST-HN, ngày 15/3/2019 và Thông báo dời phiên tòa xét xử số 01/ TB-TA, ngày 21/3/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thái K N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp P Đ 1, xã B P, huyện C L, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

Bị đơn: Anh Trần Quốc Thanh, sinh năm 1984; Địa chỉ: khóm 1, thị trấn M L, huyện C N, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thái K N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc T qua thời gian quen biết và tìm hiểu đến năm 2012 xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M L, huyện C N, thời gian chung sống chị và anh T có 01 con chung tên Trần Thị N A, sinh ngày 07/8/2013 hiện đang sống với chị, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 vợ chồng thường xảy ra mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cải nhau anh T thường hay uống rượu không lo cho vợ con và gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng anh T không khắc phục được, mâu thuẩn vợ chồng càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc T.

- Về con chung: Tên Trần Thị N A, sinh ngày 07/8/2013 chị N yêu cầu được nuôi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không tranh chấp, không khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị N không tranh chấp, không khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn Trần Quốc T trình bày:

Về xác lập quan hệ hôn nhân, về kết hôn, về con chung chị N trình bày là đúng. Về tài sản chung anh không khởi kiện, không tranh chấp và không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết, về số nợ phải thu, phải trả không có không yêu cầu. Anh cho rằng trong cuộc sống vợ chồng lúc nóng giận anh có đánh chị N một bạt tay và cũng có uống rượu lúc anh không đi làm nên chị N bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ mấy tháng nay, từ khi ly thân cho đến nay mạnh ai nấy sống, chị N không còn quan tâm đến anh nữa, mọi nhu cầu thiết yếu hàng ngày mỗi người tự lo liệu để sinh sống.

Nay anh xét thấy còn thương vợ con và mong muốn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, trường hợp ly hôn về con chung tên Trần Thị NA, sinh ngày 07/8/2013 anh đồng ý để chị N nuôi anh không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung của vợ chồng anh không khởi kiện, không tranh chấp và không đặt ra không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có anh không yêu cầu. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh T, về con chung giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thị N A, sinh ngày 07/8/2013 chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Ngoài ra về tài sản chung do chị N không khởi kiện nên không xem xét giải quyết, về số nợ phải thu, phải trả không có không yêu cầu nên không xem xét, án phí chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Trần Quốc T có nơi cư trú trên địa bàn huyện CN, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị Nguyễn Thị Thái K N khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Quốc T và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thái K N và anh Trần Quốc T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2012 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 08 và Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp.

Xét thấy quá trình chung sống giữa chị N và anh T tuy chưa thống nhất nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị N và anh T đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, thời gian ly thân anh chị cũng không quan tâm đến cuộc sống gia đình làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nức tháng 3/2018 chị làm đơn khởi kiện ra Tòa xin ly hôn với anh T sau đó chị rút đơn khởi kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do anh T vẫn không thay đổi tính tình không quan tâm đến hạnh phúc gia đình tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nức. Tòa án đã hòa giải 02 lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị N và anh T không đoàn tụ được mạnh ai nấy sống không còn quan tâm với nhau, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin được ly hôn với anh T là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị N, xử cho chị N và anh T được ly hôn với nhau.

Về nuôi con: Xét thấy cháu Trần Thị N A, sinh ngày 07/8/2013 là con của chị N và anh T, trong thời gian vợ chồng ly thân, cháu N A sống với chị N, được chị N nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặt. Tại phiên tòa chị N xin được quyền nuôi dưỡng con chung, để cháu NA có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị N A cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích Điều 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nhưng chị N và anh T không tranh chấp, không khởi kiện không đặt ra yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị N và anh T không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N và anh T khai không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị N phải nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 01 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thái K N.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thái K N và anh Trần Quốc T được ly hôn với nhau.

Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thái K N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Trần Thị N A, sinh ngày 07/8/2013.

Anh Trần Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích Điều 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nhưng chị N và anh T không tranh chấp, không khởi kiện không đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N và anh T không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về số nợ phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thái KN có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0019281 ngày 11/02/2019 do chị N nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu, chị Nguyễn Thị Thái K N đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 02/04/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị N và anh T

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cầu Ngang - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về