Bản án 09/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 09/2018/HNGĐ-ST NGÀY 0702/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2017/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S), sinh năm 1985 (có mặt)

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

Địa chỉ cư trú: Xóm đường 2, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ

2. Bị đơn: Anh Trương Anh T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 14/11/2017 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) trình bày:

Chị kết hôn với anh Trương Anh T ngày 04/11/2010 trước khi cưới có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, sau khi cưới chị về ở chung với gia đình anh T đến tháng 5/2011 thì vợ chồng ra ăn riêng nhưng vẫn ở chung nhà với bố mẹ anh T, tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường. Trước khi chị lấy anh T thì không biết anh nghiện ma túy, đến khi chị mang thai được khoảng 02 tháng thì mới biết anh T nghiện ma túy, sau đó chị và gia đình cho anh cai nghiện tại nhà nhưng không cai được. Đầu tháng 01/2012 anh T đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc, trong thời gian anh T đi cai nghiện chị và gia đình có đến thăm nhiều lần. Đầu năm 20014 anh T về vợ chồng vẫn sống hòa thuận chị mua xe máy cho anh đi làm nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì anh T lại nghiện sau đó chị có mua thuốc cho anh cai ở nhà nhưng không kết quả. Thực tế chị và anh T không có mâu thuẫn gì nhưng do anh T nghiện ma túy đã hứa với chị nhiều lần là sẽ bỏ được ma túy nhưng anh vẫn nghiện ma tuý nên chị chán nản. Năm 2016 anh T bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” đến tháng 02/2017 ra trại, hiện nay anh T có mặt ở nhà, chị có nói cho anh T biết việc chị làm đơn xin ly hôn nhưng anh T nói "bận không lên được mày muốn giải quyết đơn phương thì tự đi mà giải quyết". Như vậy anh T gây khó khăn cho chị, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 02/2015 nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh T.

Tại phiên tòa bị đơn anh Trương Anh T vắng mặt nhưng theo biên bản lấy lời khai ngày 18/12/2017 anh T trình bày: Anh thừa nhận chị T (Sáu) trình bày đúng về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống và thời gian vợ chồng đã sống ly thân. Thực tế anh và chị T không có mâu thuẫn gì, nhưng sau khi cưới anh lại nghiện ma túy sau đó đã đi cai nghiện 02 năm tại Trung tâm 06 của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2013 thì về vợ chồng lại sống hòa thuận. Anh và chị T đã sống ly thân từ tháng 02/2015, trong thời gian này anh có gọi chị T về nhiều lần nhưng chị không về, tháng 5/2016 anh vi phạm pháp luật nên bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” đến tháng 03/2017 ra trại về địa phương. Nay chị T xin ly hôn anh không đồng ý vì anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được đoàn tụ, nếu chị T cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Chị T, anh T có 01 con chung là cháu Trương Bảo V, sinh ngày 05/9/2011 hiện nay cháu đang ở với anh T, ly hôn chị T để cháu V cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung chị T đồng ý.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và đất canh tác: Chị T và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công sức: Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T và gia đình thanh toán công sức.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đề nghị: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Cho chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) được ly hôn với anh Trương Anh T. Về con chung giao cho anh Trương Anh T tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trương Bảo V, sinh ngày 05/9/2011 anh T không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Tài sản chung, tài sản riêng công nợ và đất canh tác: Chị T và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công sức chị T không yêu cầu anh T và gia đình thanh toán công sức. Án phí chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Trương Anh T theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Về sự vắng mặt của anh T đã có lời khai vì vậy căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự trên.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010 chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) kết hôn với anh Trương Anh T trên cơ sở tự nguyện, trước khi cưới có tìm hiểu có đăng ký kết hôn là cuộc hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nên đã có 01 con chung, trong quá trình chung sống do anh T nghiện ma túy mặc dù chị T và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T vẫn không từ bỏ được ma túy. Mặt khác tháng 5/2016 anh T lại vi phạm pháp luật nên bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” từ đó chị T chán nản nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2015 cho đến nay. Việc anh T xin đoàn tụ là không thực tâm nhằm gây khó khăn cho chị T bởi lẽ, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không đạt được, vì vậy căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên giải quyết cho chị T được ly hôn với anh T là phù hợp.

[2]. Về con chung: Chị T anh T có 01 con chung là cháu V hiện nay cháu đang ở với anh T, ly hôn anh T xin nuôi cháu V chị T đồng ý vì vậy cần áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Vy đến khi trưởng thành hoặc khi chị T, anh T có yêu cầu khác là phù hợp. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và đất canh tác: Chị T và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. .

[4]. Về công sức: Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T và gia đình thanh toán công sức nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo bản án các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Cho chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) được ly hôn với anh Trương Anh T.

Về con chung: Anh Trương Anh T tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu cháu Trương Bảo V, sinh ngày 05/9/2011 đến khi trưởng thành hoặc khi chị T (S) có yêu cầu khác. Anh Trương Anh T không yêu cầu chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và đất canh tác: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) và anh Trương Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về công sức: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) không yêu cầu anh Trương Anh T và gia đình thanh toán công sức.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T (Bùi Thị S) phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003924 ngày 24/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, chị T (Sáu) đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


199
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:09/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về