Bản án 09/2017/HSST ngày 05/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 09/2017/HSST NGÀY 05/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 12 năm 2017, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2017/HSST, ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: S, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông: Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị C; Có vợ là Hầu Thị L và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/8/2017 đến ngày 14/8/2017 thì bị tạm giam tại Nhà tạm giữ lưu giam Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 11/8/2017, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện CM phối hợp cùng Công an thị trấn CM tiến hành kiểm tra tại khu vực S, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, phát hiện đối tượng Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, nên tổ công tác đã kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại túi quần đằng trước bên phải đang mặc của T 01 (Một) gói nhỏ được gói bằng loại giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy và số tiền 500.000 VNĐ. Tổ công tác đã niêm phong gói chất bột trên trong phong bì ký hiệu T.

Trên cơ sở đó vào hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà ở và khu vực phụ cận của Nguyễn Văn T. Qua khám xét tổ công tác đã phát hiện và thu giữ 03 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng tại đầu giường ngủ của T và 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói bằng giấy cùng loại tại hàng rào phía bên phải nhà T. Tổ công tác đã tiến hành thử phản ứng nhanh phát hiện chất ma túy, kết quả cho thấy đó là ma túy, loại Hêrôin. Tổ công tác đã niêm phong 04 gói chất bột trên trong phong bì ký hiệu T1.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ trên người của T và 04 gói thu giữ tại nhà của T là ma túy (hêrôin). Số ma túy trên có được là vào khoảng 17 giờ ngày 10/8/2017, T đi xe khách từ đầu cầu CM thuộc Đ, tỉnh TN xuống khu vực đường tròn TL, thành phố TN, tỉnh TN mua 01 gói ma túy (Hêrôin) với một người đàn ông không quen biết số tiền 200.000 VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua ma túy về, T chia ra làm 05 gói nhỏ và cất giấu tại nhà. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 11/8/2017 khi T cất trong túi quần 01 gói nhỏ để đem đi sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định trọng lượng ngày 11/8/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CM xác định: Số chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu T có trọng lượng 0,114 gam, trích 0,022 gam được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định; Số chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 có trong lượng là 0,076 gam, trích 0,018 gam được niêm phong trong phong bì ký liệu T4 gửi giám định. Số chất bột màu trắng còn lại là 0,092 gam được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3 và số chất bột màu trắng 0,058 gam được niêm phong trong phong bì ký hiệu T5 là tang vật vụ án. (Tổng trọng lượng chất bột màu trắng có trong 05 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn T là 0,19 gam).

Tại Bản kết luận giám định số 118 ngày 13/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T2, T4 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 51/KSĐT-MT ngày 10/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói nhỏ ma túy (Heroin) có tổng trọng lượng là 0,19 gam, với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Điều luật có nội dung:

 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy nhiên theo tinh thần của Nghị quyết số 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số: 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 12/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của bị cáo được xem xét theo tiết c điểm 1 khoản 66 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14. Điều luật có nội dung như sau:

 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Cáo trạng số 51/KSĐT-MT ngày 10/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46/BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung2009.

Tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo, không có điều kiện thi hành án, do vậy việc áp dụng hình phạt bổ sung không có tính khả thi, nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn T khai đã mua với một người không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực đường tròn TL, thành phố TN, tỉnh TN. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) là tiền của T do làm thuê mà có, không liên quan đến việc phạm tội. Xét thấy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng trong vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy gồm: 0,092 gam (Không phảy không chín hai gam) chất Ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3; 0,058 gam (Không phảy không năm tám gam) chất Ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu T5.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Tiết c điểm 1 khoản 66 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (11/8/2017).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, 42 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy phong bì ký hiệu T3 bên trong có chứa 0,092 gam (Không phảy không chín hai gam) chất Ma túy (Hêrôin) và phong bì ký hiệu T5 bên trong có chứa 0,058 gam (Không phảy không năm tám gam) chất Ma túy (Hêrôin).

- Tạm giữ số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T để đảm bảo thi hành án, số còn lại trả lại cho bị cáo.

 (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2017 giữa Cơ quan Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về