Bản án 09/2017/HNGĐPT ngày 12/12/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 09/2017/HNGĐPT NGÀY 12/12/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON VÀ CHIA TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 07/2017/TLPT-HNGĐ ngày 02  tháng 11 năm 2017 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 203/2017/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù M bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2017/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Phương C; Trú tại: Tư C, Phước T, Tuy P, Bình Định (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh V; Trú tại Chánh T, Mỹ C, Phù M, Bình Định (vắng)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị N (vắng)

- Ông Trần Đình L

Cùng trú tại: An L, Mỹ C, Phù M, Bình Định.

Ông L ủy quyền cho bà N theo văn bản ủy quyền ngày 16/02/2017

- Ủy ban nhân dân xã Mỹ C

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thái B – Chủ tịch UBND xã Mỹ C. (vắng)
 
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ C.

- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù M

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Xuân V – Giám đốc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù M. (vắng)

4. Người kháng cáo: Chị Huỳnh Thị Phương C – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phương C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh V tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ C, huyện Phù M ngày 09/3/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V thường xuyên đánh đập chị và nhiều lần xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị nên từ tháng 9.2016 chị đã đưa 02 con về quê ngoại tại Phước T, Tuy P ở. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Thanh V.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Phương T, sinh ngày 13/7/2011 và Nguyễn Lệ Q, sinh ngày 01/7/2013. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con; yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.Về tài sản chung: 01 ngôi nhà 02 tầng mã hiệu N3, diện tích 120 m2 xây dựng trên thửa đất số 59 tờ bản đồ số 34 diện tích 157,6 m2 tại thôn Chánh T, xã Mỹ C, huyện Phù M, tỉnh Bình Định. Đất là của cha mẹ anh V tức ông Nguyễn Đình L và bà Trần Thị N còn nhà là do vợ chồng xây dựng. Năm 2014 cha mẹ chồng và anh V tự ý đến UBND xã Mỹ C làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất và ngôi nhà nói trên cho anh V, chị không hay biết. Tháng 9/2016 khi chị gởi đơn xin ly hôn đến Tòa án chị mới biết việc này. Chị yêu cầu Tòa hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 14/2014 ngày 03/3/2014 giữa ông L, bà N với anh V và yêu cầu chia đôi giá trị ngôi nhà nói trên.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh V trình bày:

Anh thống nhất với lời khai của chị Huỳnh Thị Phương C về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung. Về mâu thuẫn vợ chồng, năm 2015 anh đi làm ăn ở xa sau đó bị bệnh tim nên phải về nhà nhưng chị C không chăm sóc, có lần bực tức quá anh đã dùng chổi đánh chị C một cái nên từ đó chị C yêu cầu ly hôn và vợ chồng sống ly thân từ tháng 09/2016 cho đến nay. Nay chị C yêu cầu ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Nếu tòa xử cho vợ chồng ly hôn, anh yêu cầu nuôi cháu T còn chị C nuôi cháu Q, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung. Năm 2012 cha mẹ anh xây dựng một căn nhà 02 tầng mã hiệu N3 trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 34 diện tích 157,6 m2  tại Chánh T, Mỹ C, Phù M, Bình Định thuộc quyền sử dụng của cha mẹ anh. Sau khi xây dựng xong, cha mẹ anh cho vợ chồng ở nhờ.

Ngày 03/3/2014 cha mẹ anh làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho anh nên đây là tài sản riêng của anh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị N, ông Nguyễn Đình L (do bà N đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Ngôi nhà 02 tầng mã hiệu N3 được xây dựng vào năm 2012 trên thửa đất số 59, tờ bản đồ số 34, diện tích 157,6 m2 tại Chánh T, Mỹ C, Phù M, Bình Định hiện anh V, chị C đang ở là của vợ chồng ông bà. Năm 2014 vợ chồng ông bà làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 14/2014 ngày 03/3/2014 cho anh Vg; Hợp đồng tặng cho đã được UBND xã Mỹ C chứng thực do vậy nhà, đất trên là tài sản riêng của anh V không phải là tài sản chung của vợ chồng anh V, chị C.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Mỹ C do ông Lê Văn T đại diện trình bày:

Ngày 03/3/2014 UBND xã Mỹ C chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 14/2014 của vợ chồng ông Nguyễn Đình L và bà Trần Thị N tặng cho con là Nguyễn Thanh V. Sau khi kiểm tra hồ sơ, giấy tờ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thể hiện đất thuộc quyền sử dụng của ông L, bà N; ông L, bà N trình bày ông bà là người xây dựng nhà trên đất thuộc quyền sử dụng của ông bà nên UBND xã Mỹ C mới tiến hành chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Việc chứng thực Hợp đồng nêu trên là đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phù M do ông Phan Xuân V – Giám đốc đại diện trình bày:

Ngày 05/3/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù M) tiếp nhận hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Đình L và bà Trần Thị N với anh Nguyễn Thanh V đã được UBND xã Mỹ C chứng thực vào ngày 03/3/2014. Ngày 12/3/2014 Văn phòng đăng ký đất đai (Nay là chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phù M) chuyển hồ sơ qua Chi cục thuế huyện Phù M để xác định nghĩa vụ tài chính.

Ngày 13/3/2014 người nhận tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai) ký xác nhận việc tặng cho là đúng với quy định của pháp luật.

Bản  án  hôn  nhân  gia  đình  sơ  thẩm  số  203/2017/HNGĐ-ST  ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù M đã xử:

Bác yêu cầu của chị Huỳnh Thị Phương C xin ly hôn anh Nguyễn Thanh V.

Ngoài ra Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, về án phí hôn nhân sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
 
Ngày 19/9/2017 nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phương C kháng cáo yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Thanh V, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con và chia tài sản là giá trị ngôi nhà .

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: những người tiến hành Tố tụng và nguyên đơn trong vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị Huỳnh Thị Phương C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo yêu cầu của chị Huỳnh Thị Phương C về việc yêu cầu được được ly hôn anh Nguyễn Thanh V, Hôi đông xet xư thây răng : Mâu thuân vợ chồng giưa chi C va anh V  chưa đến mức trầm trọng chủ yếu là do cách xử sự của hai bên chưa đúng mực, anh V bị bệnh tật nhưng chị C thiếu sự quan tâm chăm sóc vì bực tức nên nhất thời anh V đanh chị C, anh V cũng thừa nhận hành động của mình là không đúng và hứa khắc phục sửa chữa đồng thời tha thiết mong muôn vơ chông đươc đoan tu . Tòa án cấp sơ thẩm bác đơn xin ly hôn của chị C là có căn cứ vì vậy Hội đồng   phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được ly hôn anh V của chị C để vợ chồng anh chị có thời gian hàn gắn tình cảm, xây dưng hanh phuc gia đinh.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của chị Huynh Thi Phương C không được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội chi C phải chịu 300.000 đồng.

[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Không chấp nhận kháng cáo của chị Huỳnh Thị Phương C; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bác yêu cầu của chị Huỳnh Thị Phương C xin ly hôn anh Nguyễn Thanh V. Án  phí dân sự phúc thẩm: Chị C phải chịu 300.000 đồng, được trừ 300.000 đông tiên tam ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số 03191 ngày 19/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù M.

Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


42
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về