Bản án 08/2020/HS-ST ngày 09/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 08/2020/HS-ST NGÀY 09/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thâm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 453/2019/TLST-HS ngay 11/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389/2019/QĐXXST-HS ngày 25/12/2019 đôi vơi bị cáo:

Cao L (Tên gọi khác: Nguyễn Văn M), sinh năm: 1994 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ x, thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Raglay; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Phi M (đã chết) và bà Cao Thị T sinh năm: 1950; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 07/01/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Khánh Vĩnh “về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường Giáo dưỡng”, thời hạn 24 tháng. Ngày 08/01/2012, chấp hành xong.

- Bản án số 304/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 29/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nha Trang khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Trọng L, sinh năm 1994 Địa chỉ: Phòng trọ 647 D, phường Vĩnh H, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông L vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê D, sinh năm 1973 Địa chỉ: Thôn Phú L, xã Hòa Th, huyện Phú H, tỉnh Phú Yên.

Ông D vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Trung Tr, sinh năm 1995 Địa chỉ: 05KB Phước H, phường Vĩnh Th, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Tr vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 04/7/2019, sau khi chơi điện tử, Cao L rủ V (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà bạn của L tại khu vực Cửa Bé, phường Vĩnh Trường, thành phố Nha Trang chơi, V đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius (không rõ biển kiểm soát) chở L đến nhà nam thanh niên nói trên nhưng không có người này ở nhà nên cả hai đi về. Khi đi qua sân bóng Thanh Niên trên đường Trần Phú, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, cả hai phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78E1-090.27 của anh Lê Trọng L dựng trên vỉa hè, không người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy này, bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Sau đó, V đứng cảnh giới để L trộm chiếc xe trên. Do xe trộm được không có chìa khóa nên L ngồi lên xe để V điều khiển xe máy của V đẩy đi. Khi L, V điều khiển xe máy lưu thông trên đoạn đường Tôn Thất Tùng, phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang thì bị Tổ công tác Công an phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang phát hiện L, V có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân. Lo sợ hành vi phạm tội bị phát hiện, V điều khiển xe của mình chạy thoát, còn L bỏ lại xe máy trộm cắp được tại chỗ rồi bỏ chạy.

Sau đó, L leo lên mái nhà của anh Trần Nhật T tại 05 KB Hải Phước, phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang ngủ. Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 04/7/2019, anh T phát hiện L ngủ trên mái nhà của mình nên đã trình báo Cơ quan công an. Tại Cơ quan công an, L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 415/HĐĐG ngày 23/7/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78E1-090.27, số khung C640CY935595, số máy 5C64932614 trị giá 8.052.000đ.

Vật chứng: Xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78E1-090.27, số khung C640CY935595, số máy 5C64932614 đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 337/CT-VKSNT ngày 11/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Cao L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Cao L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo L từ 06 đến 09 tháng tù; Vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết; Không xem xét, giải quyết việc bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông Lê Trọng L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê D; người làm chứng ông Nguyễn Trung Tr mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của các đương sự có tên trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Cao L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 337/CT-VKSNT ngày 11/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Cao L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo Cao L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu nên phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại ông Lê Trọng L đã nhận lại xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78E1-090.27 và không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – ông Lê D vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[4]. Về vật chứng của vụ án: Xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 78E1- 090.27, số khung C640CY935595, số máy 5C64932614 đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [5]. Về án phí: Bị cáo Cao L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Đối với đối tượng V (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nha Trang đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Cao L (Nguyễn Văn M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Cao L 09 (chín) tháng tù; Tổng hợp hình phạt với bản án số 304/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Cao L phải chấp hành hình phạt tù của 02 bản án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam, tạm giữ theo bản án số 304/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang là ngày 04/9/2019.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

- Về vật chứng của vụ án: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điêu 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Buộc bị cáo Cao L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa đươc quyên khang cao ban an sơ thâm trong thơi han 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2020/HS-ST ngày 09/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:08/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về