Bản án 08/2020/HNGĐ-ST ngày 08/05/2020 về ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 08/2020/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2020 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 08 tháng 5 năm2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 2 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: anh Nguyễn Tiến Th, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Châu Gi, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: chị Vũ Thị T, sinh năm 1990; nơi ĐKNKTT: tổ dân phố Đ, phường Châu Gi, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: thôn Thận A, xã Yên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Th trình bầy: Anh và chị Vũ Thị T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 31/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Châu Gi, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống cũng như trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến vợ chồng không thông cảm, chia sẻ, tình cảm dần lạnh nhạt. Vợ chồng ly thân nhiều lần, lần gần nhất từ tháng 6/2019 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Mặc dù đã được người thân khuyên can, nhưng mâu thuẫn vẫn tồn tại đến nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên anh xin được ly hôn chị T.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chịVũ Thị T thừa nhận kết hôn với anh Nguyễn Tiến Th trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Gi ngày 31/01/2018. Theo chị sau khi chung sống được một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ban đầu chị có mâu thuẫn với bố chồng sau đó dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, theo chị anh Th không thông cảm chia sẻ chăm sóc vợ con ngoài ra còn xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thậm chí xảy ra xô xát. Từ tháng 6/2019 chị chuyển về sinh sống tại nhà mẹ đẻ của chị, vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay không quan tâm gì đến nhau.Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, không thể chung sống tuy nhiên chị không đồng ý ly hôn vì không muốn con chung phải khổ.

* Về con chung: Anh Th, chị T xác nhận vợ chồng có một con chung là Nguyễn Kim Ng, sinh ngày 30/01/2019.

Khi ly hôn anh Th xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con, trường hợp chị T muốn nuôi con thì anh cũng đồng ý và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng chị T 1.500.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được.

Quan điểm của chị T xin được nuôicon chung và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con, hiện nay chị đang làm tại công ty KOS Hà Nội tại khu công nghiệp Đồng Văn 2 với thu nhập bình quân 7 triệu đồng/tháng.

* Về tài sản chung, công sức, công nợ: Các đương sự cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Vũ Thị T giữ nguyên quan điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghịxử ly hôn giữa anh Nguyễn Tiến Th và chị Vũ Thị T; về con chung:giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kim Ng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không đặt ra giải quyết và tuyên án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Th tuy nhiên anh Th có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, HĐXX căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Th tại phiên tòa.

[2]Về quan hệ hôn nhân:Anh Nguyễn Tiến Th và chị Vũ Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã Châu Gi, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn ngày 31/01/2018 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đều thừa nhận, nguyên nhân ban đầu do chị T có mâu thuẫn với bố đẻ của anh Th dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng; vợ chồng không thông cảm, xảy ra cãi vã, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2019 đến nay, không quan tâm đến nhau; Quá trình giải quyết Tòa án đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, anh Th vẫn kiên quyết xin ly hôn, chị T thì khẳng định không thể tiếp tục chung sống tuy nhiên chị không đồng ý ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn đã tồn tại trong một quá trình, nhận thấy đã trầm trọng xét yêu cầu của anh Th có căn cứ cần xử ly hôn giữa anh Th và chị T là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

[3]Về con chung:Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Kim Ng, sinh ngày 30/01/2019.

Xét nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự thấy con chung còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi vì thế cần giao cháu cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; về cấp dưỡng nuôi con: do chị T không yêu cầu nên anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]Về tài sản chung, công nợ, công sức: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5]Về án phí ly hôn sơ thẩm:anh Nguyễn Tiến Th phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên, Căn cứ:

QUYẾT ĐỊNH

 - Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1.Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Tiến Th và chị Vũ Thị T.

2. Về con chung: Giao chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kim Ng, sinh ngày 30/01/2019 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Nguyễn Tiến Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Tiến Th, chị Vũ Thị T được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. ChịVũ Thị T và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Th trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Tiến Th phải chịu 300.000đ.Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh Th đã nộp theo biên lai số 0003169 ngày 04/2/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm;Chị Vũ Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Tiến Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2020/HNGĐ-ST ngày 08/05/2020 về ly hôn, nuôi con

Số hiệu:08/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về