Bản án 08/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 08/2019/HS-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/TLST- HS ngày 02/4/2019 đối với bị cáo:

Võ Minh C, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: xã TB, huyện MC, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp TL, xã TB, huyện MC, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T, sinh năm 1945 và bà Mai Thị C, sinh năm 1943; Vợ: Lương Thúy P, sinh năm 1978; Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006; Có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Lúc nhỏ sống với cha mẹ, học văn hóa đến lớp 3 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình ở ấp PH, xã PK (TP - Bến Tre), lớn lên lập gia đình riêng và sinh sống tại ấp TL xã TB (MC- Bến Tre) cho đến ngày phạm tội. (có mặt)

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Thị B, sinh năm 1960 (có mặt) Nơi cư trú: Ấp AN, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp PH, xã PK, huyện TP, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng: Nguyễn Quốc A, sinh năm 1980 (vắng mặt) Nơi cư trú: Ấp TL, xã TB, huyện MC, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Minh C, sinh năm 1980 ngụ ấp TL xã TB (MC – Bến Tre) lái xe thuê cho bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1984 ngụ ấp Phú Hoà xã Phú Khánh (Thạnh Phú – Bến Tre). Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/12/2018, Võ Minh C điều khiển xe ô tô tải biển số 71C – 002.82 của Nguyễn Thị Thu Thuỷ (có giấy phép lái xe) chở theo Nguyễn Quốc A, sinh năm 1980 lưu thông trên đường Quốc lộ 57C theo hướng từ xã Vĩnh An đi xã An Hoà Tây (Ba Tri – Bến Tre). Khi đến đoạn đường thuộc ấp Vĩnh Đức Trung xã Vĩnh An, Võ Minh C để xe đi qua phần đường bên trái nên đụng vào xe mô tô biển số 71B1 – 167.23 đang chạy ngược chiều do ông Phan Văn G, sinh năm 1952 ngụ ấp AN, xã V điều khiển gây tai nạn, hậu quả làm ông G tử vong do đa chấn thương.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 14 giờ 50 phút ngày28/12/2018, xác định:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng rộng 6,6 mét, tầm nhìn không bị che khuất, đường hai chiều có vạch kẻ tim đường ở giữa. Khám nghiệm hiện trường theo hướng từ xã Vĩnh An đi xã An Hoà Tây và lấy lề trái làm lề chuẩn để đo vẽ, chọn trụ điện số 46 nằm trong phần đất bên trái cách lề chuẩn 3,5m làm mốc cố định.

- Xe ô tô tải biển số 71C – 002.82 đỗ bên phần đường bên trái hướng lưu thông, đầu xe nằm trong phần đất, đuôi xe nằm trên mặt đường nhựa; đầu trục bánh trước bên phải và bên trái cách lề chuẩn 02m và 3,1 m; đầu trục bánh sau bên phải cách lề chuẩn 1,3m, đầu trục bánh sau bên trái trùng với lề chuẩn. Sau va chạm, xe ô tô tải để lại vết phanh liên tục dài 24m, rộng 0,1m nằm trên mặt đường nhựa ở phần đường bên trái, có cùng chiều với hướng khám nghiệm và chếch vào lề trái, đầu vết phanh cách lề chuẩn 3,3m, cuối vết phanh trùng lề chuẩn và cách đầu trục bánh sau bên trái xe ô tô tải là 5,9m.

- Xe môtô biển số 71B3 – 167.23 sau tai nạn ngã phải nằm bên trong phần đất bên trái hướng khám nghiệm, đầu xe hướng vào phần đất bên trái, đuôi xe hướng ra mặt đường nhựa; trục bánh trước cách lề chuẩn 3,3m; trục bánh sau cách lề chuẩn, cách đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô tải và cách trụ điện số 46 lần lượt là 2,3m, 0,7m và 3,6m. Sau va chạm, xe môtô biển số 71B3 – 167.23 để lại vết cày dài 1,4m đứt quãng nằm trên mặt đường nhựa ở phần đường bên trái có cùng chiều với hướng khám nghiệm, đầu và cuối vết cày cách lề chuẩn lần lượt là 1,2m và 01m.

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện xe ô tô tải biển số 71C –002.82 và xe môtô 71B3 – 167.23 qua kết quả giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh xác định là vị trí phía trước xe ô tô tải 71C –002.82 và phía trước xe mô tô 71B3 – 167.23, vị trí này chiếu xuống mặt đường nằm trước đầu vết cày ký hiệu số 2 (tức vết cày của xe mô tô) thuộc phần đường bên phải Quốc lộ 57C hướng từ xã An Hoà Tây đi xã Vĩnh An.

Phương tiện và tài sản tạm giữ đã xử lý, gồm:

- 01 xe môtô biển số 71B3 – 167.23, số máy 152FM00032885, số khung LXCXDGL06Y6004296, tình trạng xe bị hư hỏng có đặc điểm: hệ thống đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng, nhựa ốp đầu xe bị hư hỏng hoàn toàn; đầu tay cầm lái bên phải có vết bào mòn cao su; mặt nạ xe bị bể rơi mất; cung chắn bùn phía trước bị gãy rơi mất, ống phuộc bên phải người điều khiển bị bể rơi mất một phần; máy xe bị gãy rơi khỏi vị trí ban đầu; cần đạp phanh và cần gác chân bên phải người điều khiển bị cong từ trên xuống dưới từ trước ra sau và có vết bào mòn kim loại, bộ phận giảm thanh bị gãy rơi khỏi vị trí ban đầu, cung chắn bùn phía sau và biển số xe bị gãy rơi hẳn ra ngoài. Hệ thống máy, đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng không hoạt động.

- 01 xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, số máy D4DBB456680, số khung KMCGK17BPBC162906, tình trạng xe bị hư hỏng có đặc điểm: kính chắn gió phía trước bị nứt, cần gạt nước phía bên phải người điều khiển bị gãy rơi mất, góc phải đầu xe có vết thụng kim loại từ ngoài vào trong và có nhiều vết bong tróc sơn, mặt nạ trước đầu xe có vết nứt bể bong tróc sơn, nhựa ốp cản trước đầu xe bị gãy rơi mất. Hệ thống gạc nước, còi, đèn chuyển hướng, đèn chiếu sáng còn hoạt động; hệ thống côn, ga, phanh còn tác dụng.

- 01 Giấy đăng ký xe ô tô tải biển số 71C - 002.82.

- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82.

- 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm hiểm của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82.

- 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790165213547 mang tên Võ Minh C.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 29/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre truy tố Võ Minh C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, Võ Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi điều khiển xe vi phạm luật giao thông đường bộ và gây tai nạn cho ông Phan Văn G như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự, bà B không yêu cầu bị cáo bồi thường bất cứ khoản tiền nào do trước đó bị cáo và chị T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị T và bị cáo không có yêu cầu gì về số tiền cả hai đã bỏ ra để bồi thường cho gia đình bị hại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên quyết định truy tố đối với Võ Minh C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Minh C từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Ghi nhận đại diện gia đình bị hại và chị T, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 160.000.000 đồng và gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào.

+ Ghi nhận bị cáo không yêu cầu chị Nguyễn Thị T trả lại 50.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại .

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Ghi nhận cơ quan CSĐT - Công an huyện Ba Tri đã giao trả 01 xe môtô biển số 71B3 – 167.23 cho bà Nguyễn Thị B và giao trả 01 xe ô tô tải biển số71C – 002.82, 01 giấy đăng ký xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm hiểm của xe ô tô tải biển số 71C -002.82 cho chị Nguyễn Thị T

+ Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790165213547 mang tên Võ Minh C.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bà B, chị T không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Võ Minh C là phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do không tuân thủ đúng các quy tắc giao thông đường bộ, Võ Minh C đã điều khiển xe ôtô tải biển số 71C - 002.82 lưu thông không đúng phần đường quy định nên để xe đụng vào xe môtô biển số 71B1 – 167.23 do ông Phan Văn G điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại gây tai nạn, hậu quả làm ông G tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Sự việc xảy ra vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/12/2018, trên Quốc lộ 57C thuộc khu vực ấp Vĩnh Đức Trung, xã Vĩnh An (Ba Tri – Bến Tre). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Võ Minh C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [3] Hành vi điều khiển xe không đúng phần đường quy định rồi gây ra tai nạn của bị cáo là vi phạm luật giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người có lý trí bình thường, đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, nhưng thiệt hại do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng do đã làm chết một người. Việc làm của bị cáo không những là vi phạm pháp luật mà còn gây ra sự đau đớn, mất mát không gì bù đắp được cho gia đình người bị hại, làm cho họ vĩnh viễn mất đi một người thân yêu trong gia đình đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm cho họ không an tâm khi tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi do bị cáo gây ra.

 [4] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Sau tai nạn, bị cáo và chị T cùng gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 160.000.000 đồng, trong đó, phần bị cáo bồi thường 50.000.000 đồng; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

 [5] Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, gia đình bị hại có yêu cầu xin cho bị cáo hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo lao động cùng vợ nuôi 02 con nhỏ. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo về cho gia đình và địa phương giám sát giáo dục cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đại diện bị hại về việc cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.

 [6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo, chị T và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và tại tòa, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào nên được HĐXX ghi nhận.

Đối với khoản tiền bị cáo và chị T đã bỏ ra để bồi thường cho gia đình bị hại. Tại tòa, cả hai không có yêu cầu gì về số tiền này nên HĐXX không xem xét giải quyết.

 [7] Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ba Tri đã giao trả 01 xe môtô biển số 71B3 – 167.23 cho bà Nguyễn Thị B và giao trả 01 xe ô tô tải biển số 71C – 002.82, 01 giấy đăng ký xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm hiểm của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82cho chị Nguyễn Thị T là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

+ Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 790165213547 mang tên Võ Minh C, xét thấy nghề nghiệp chính của bị cáo là tài xế nên HĐXX trả lại cho bị cáo để bị cáo có điều kiện lao động, cùng vợ nuôi con nhỏ.

 [8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Võ Minh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 65 Bộ luật hình sự;

 Xử phạt bị cáo Võ Minh C 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gianthử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 23/4/2019.

Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã TB, huyện MC, tỉnh Bến Tre giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường 160.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

+ Ghi nhận cơ quan CSĐT - Công an huyện Ba Tri đã giao trả 01 xe môtô biển số 71B3 – 167.23 cho bà Nguyễn Thị B và giao trả 01 xe ô tô tải biển số 71C – 002.82, 01 giấy đăng ký xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô tải biển số 71C - 002.82, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm hiểm của xe ô tô tải biển số 71C- 002.82 cho chị Nguyễn Thị T.

+ Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 790165213547 (Theo phiếu nhập kho số NKTV14 ngày 03/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).

5. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Bị cáo Võ Minh C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


118
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

Số hiệu:08/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Tri - Bến Tre
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về