Bản án 08/2019/HSST ngày 15/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 08/2019/HSST NGÀY 15/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/HSST ngày 30/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 30/01/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ VĂN K, sinh năm 1997 tại TP. Quy Nhơn; Nơi cư trú: Tổ A, khu vực B, phường C, TP. QN, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê B, sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị N (chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam: Ngày 15/10/2018 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Phạm Văn Ch, sinh năm 1982 “Vắng mặt”. Trú tại: Tổ A, KVB, phường C, TP. QN, tỉnh Bình Định.

2. Anh Phùng Văn S, sinh năm 1991 “Vắng mặt”. Trú tại: Thôn A, xã B, TP. QN, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Văn Ch, sinh năm 1976 “Vắng mặt”. Trú tại: Tổ A, KVB, phường C, TP. QN, tỉnh Bình Định.

2. Anh Bùi T, sinh năm 1985 “Vắng mặt”. Trú tại: Tổ A, KVB phường QC, TP. QN, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài, trong khoảng thời gian từ tháng 07 đến tháng 08/2018, Lê Văn K đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn TP. QN, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 23/7/2018, Lê Văn K đi bộ một mình đến khu hậu cần nghề cá thuộc KV8, phường A, TP. QN. Kêu thấy xe mô tô biển số 77M3-9090 của anh Phạm Văn Ch dựng ven đường, không có người trông coi. K dùng tay rút dây bình, nổ máy điều khiển xe bỏ đi. Sau đó, đem xe bán cho anh Đặng Văn Ch với giá 1.000.000 đồng. Số tiền bán xe K tiêu xài cá nhân. Sau khi mua chiếc xe trên, anh Ch rã xe ra bán sắt phế liệu được 1.200.000 đồng (không rõ lai lịch người mua) nên xe không thu hồi được.

Ngày 30/9/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: Xe mô tô biển số 77M3-9090 trị giá 1.800.000 đồng. Bị hại anh Phạm Văn Ch yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.800.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 13/8/2018, Lê Văn K đi bộ một mình tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Thấy xe mô tô biển số 77H4-5169 của anh Phùng Văn S dựng trên vỉa hè trước nhà ở (không số) đường Thoại Ngọc Hầu, TP. QN, K đến lắc cổ xe, thấy xe không khóa cổ nên dắt xe đi bộ được một đoạn thì gặp một thanh niên (không rõ lai lịch), Kêu nói xe bị mất chìa khóa và mượn nhờ chìa khóa của người thanh niên này để mở khóa xe và mở được ổ khóa điện, nổ máy, điều khiển xe đi trên đường Lê Thanh Nghị, TP. QN thì bị anh Phùng Văn S phát hiện, giữ lại, đưa người và tang vật về Công an P. Đống Đa làm việc. Ngày 30/9/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: Xe mô tô biển số 77H4-5169 trị giá 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô biển số 77H4-5169 cho bị hại anh Phùng Văn S và anh S không yêu cầu gì khác.

Ngoài ra, Lê Văn K còn khai nhận vào ngày 31/7/2018, có lấy trộm 01 xe mô tô tô biển số 77M7-5964 dựng trên vỉa hè trước nhà số 228 Lê Thanh Nghị, TP. QN. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT - Công an TP. Quy Nhơn đã tiến hành xác minh, thông báo tìm bị hại nhưng đến nay chưa xác định được bị hại.

- Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSQN ngày 20/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX xử phạt Lê Văn K từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn Ch số tiền 1.800.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch sung vào ngân sách Nhà nước xe mô tô biển số 77M7-5964.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Để có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Văn K đi dạo bộ trên các tuyến đường trong TP. QN, tìm xe mô tô mà chủ xe sở hở trong việc trông coi, quản lý thì lén lút chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. Với thủ đoạn trên, vào ngày 23/7/2018, Lê Văn K trộm cắp mô tô biển số 77M3-9090 của anh Phạm Văn Ch có trị giá 1.800.000 đồng. Tiếp đến, ngày 13/8/2018, K trộm cắp xe mô tô biển số 77H4-5169 của anh Phùng Văn S có trị giá 3.000.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn K có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật, đã lợi dụng sự sở hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt xe mô tô của bị hại Phạm Văn Ch, Phùng Văn S có tổng trị giá 4.800.000 đồng. Do đó, bị cáo Lê Văn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên cũng xem xét: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo.

 [5] Về bồi thường thiệt hại:

- Bị cáo trộm cắp xe mô tô của anh Phạm Văn Ch đem bán cho anh Đặng Văn Ch lấy tiền tiêu xài, anh Chín đã rã xe mô tô bán phế liệu, xe mô tô hiện không thu hồi được nên buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm Văn Ch số tiền 1.800.000 đồng (trị giá xe mô tô theo định giá).

- Xe mô tô biển số 77H4-5169 đã được thu hồi trả lại cho anh Phùng Văn S, anh S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Trong qua trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ xe mô tô biển số 77M7-5964, K khai trộm xe mô tô này trên vỉa hè trước nhà số 228 Lê Thanh Nghị, TP. QN. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT - Công an TP. Quy Nhơn đã tiến hành xác minh, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm bị hại nhưng đến nay không có ai đến khai báo và xin nhận xe. Xét thấy xe mô tô 77M7-5964 có giá trị kinh tế nên tịch sung vào ngân sách Nhà nước.

 [7] Về vấn đề khác:

- Ngày 21/9/2018, Lê Văn K trộm cắp xe mô tô biển số 77L1-420.08 của anh Võ Xuân C, ngày 25/9/2018 Công an phường Đống Đa, TP. QN lập biên bản vi phạm hành chính, đến ngày 27/9/2018 Công an phường ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn K. Xét thấy, Công an phường Đống Đa, TP. QN ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K là không đúng quy định. Do đó, tại Quyết định điều tra bổ sung số 01/2019/HSST-QĐ ngày 18/01/2019 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an phường Đống Đa, TP. QN để truy tố hành vi của Lê Văn K trộm cắp xe mô tô biển số 77L1-420.08 của anh Võ Xuân C vào ngày 21/9/2018. Nhưng tại Công văn số109/CV-VKSQN ngày 28/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Vì vậy, căn cứ Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự (giới hạn của việc xét xử), HĐXX không xem xét giải quyết.

- Đối với anh Đặng Văn Ch có hành vi mua xe mô tô 77M3-9090 do K mang đến bán nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra Công an TP. QN không xử lý hình sự là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự án sơ thẩm theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

2 Bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589, Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn K phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm Văn Ch số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng).

Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Xe mô tô biển số 77M7-5964, số máy: VTT1P52FMH-142998, số khung: VTTDCHO4TT-142998, loại Wave Trung Quốc, màu sơn xanh, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

4. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Ba trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HSST ngày 15/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:08/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về