Bản án 08/2018/HSST ngày 13/04/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 08/2018/HSST NGÀY 13/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 04 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:08 /2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Phạm Thị G, sinh năm 1972, tại Ninh Bình; nơi đăng ký HKTT: Xóm Thị, thôn Khương Dụ, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Tr và bà Phạm Thị G; có chồng là Đinh Văn L và 3 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt.

2. Nguyễn Thế H, sinh năm 1975, tại Ninh Bình; nơi đăng ký HKTT: Thôn Hoàng Kim, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: Xóm Chùa, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H; có vợ là Lê Thị Y và 2 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: Không; bị cáo hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt.

3. Nguyễn Hữu H, sinh năm 1950, tại Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm Nam Thành, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức Nh và bà Đinh Thị Tr; có vợ Phạm Thị Ch; có 4 con, con lớn nhất sinh năm 1977 con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo hiện đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đinh Quốc Ph, sinh năm 1986, trú tại Khương Dụ, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

2. Anh Lê Văn Th, sinh năm 1989, trú tại thôn Hoàng Kim, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1969, trú tại trú tại Khương Dụ, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

4. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1970, trú tại thôn Hoàng Kim, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo có quan hệ quen biết nhau, đều là người cùng xã Yên Phong, huyện Yên Mô. Phạm Thị G thỏa thuận với Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H, lấy kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu trả thưởng. Nếu H và H có số trúng thưởng, thì Phạm Thị G sẽ trả theo tỷ lệ: Đối với số đề 2 số là 1 x 70 lần; đề 3 số là 1 x 400 lần; đối với số lô 01 1 điểm ( 23.000đồng) x 75.000đồng đến 80.000đồng; lô xiên 2 là 01 x 10 lần; lô xiên 3 là  1 x 40 lần; lô xiên 4 là 1 x 100 lần. G triết khấu cho Hồ 25% đối với tiền đề 2 số, 3 số; triết khấu 2.000đồng cho 1 điểm lô, còn số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 Giang không triết khấu. G triết khấu cho H 26% đối với tiền đề 2 số, 3 số, lô xiên 3, xiên 4; 1.200 đồng cho 1 điểm lô.

Chiều ngày 30/11/2017, G ngồi ở nhà sử dụng giấy, máy tính và 2 chiếc điện thoại; chiếc điện thoại NOKIA bên trong có hai sim có số thuê bao 0947183928 và 01689776166; chiếc điện thoại Oppo bên trong có lắp 2 sim có số thuê bao 01247579815 và số 0163596096 để trao đổi việc ghi số lô, số đề mà H và H gọi đến.

Chiều ngày 30/11/2017, H ngồi tại nhà mình dùng bút ghi các số lô, số đề ra vỏ giấy cây thuốc lá Thăng Long với tổng số tiền là 6.192.500 đồng ( trong đó số tiền dự kiến mua số đề là 712.500đồng, số tiền mua số lô là 5.460.000đồng, số đề ba số là 20.000đồng). Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày G gọi điện cho H để trao đổi việc mua bán các số lô, số đề. H đọc toàn bộ số lô, số đề được ghi trên vỏ giấy cây thuốc lá Thăng Long cho G, G vừa nghe điện thoại vừa ghi lại các số lô, số đề mà H điện đến vào quyển vở học sinh nhãn hiệu HAITIEN mầu hồng có kích thước 24,5 x 17 cm để theo dõi trả thưởng.

Chiều ngày 30/11/2017, Đinh Quốc Ph, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Kh và Nguyễn Minh T đều là người cùng xã Yên Phong. Phòng sử dụng điện thoại Nokia 3110; Tiếp sử dụng điện thoại Samsung A5; Kha sử dụng điện thoại Asus; Th sử dụng điện thoại Mobell. Ph, Th, Kh và T dùng điện thoại di động của mình để nhắn tin đến số thuê bao 01673592941 của Nguyễn Thế H để mua số lô, số đề. Ph gửi tin nhắn mua đề 2 số là 480.000đồng, lô 50 điểm là 1.100.000đồng, tổng số tiền Ph mua của H là 1.580.000đồng. Th mua 50 điểm lô số tiền 1.100.000đồng. Kh mua số đề số tiền 624.000đồng, lô 120 điểm số tiền là 2.640.000đồng và lô xiên 160.000đồng, tổng số tiền Kh mua của H số tiền 3.424.000đồng. T mua đề 02 số là 952.000đồng, đề 03 số là 80.000đồng, tổng số tiền T mua là 1.032.000đồng. Tổng số tiền H ghi (bán) cho Ph, T, Kh và Th là 7.136.000đồng. H thống nhất với Ph, Th, T, Kh mỗi điểm lô thu 22.000đồng, đề là 80% tổng tiền. Lấy kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu trả thưởng, việc thanh toán với 4 người sẽ thực hiện vào ngày hôm sau mức độ trả thưởng cũng như G trả.

Hồi 17 giờ 53 phút cùng ngày, tại nhà ở của mình Phạm Thị G sử dụng điện thoại Nokia lắp số thuê bao 01689776166 gọi đến số thuê bao 01673592941 của Nguyễn Thế H để mua bán số lô, số đề. H giữ lại 80 điểm lô đã ghi của Th, Kh, T và Ph với số tiền là 1.760.000đồng còn lại chuyển cho G với số tiền 5.175.800đồng, ngoài ra H mua tiếp các số lô, số đề với G với số tiền 8.572.500 đồng. Như vậy số tiền số lô, số đề Học mua của Giang là 13.748.300đồng. Sau khi nhận điện của Học gọi cho, Giang ghi các số lô, số đề mà Học mua vào quyển vở học sinh nhãn hiệu HAITIEN bìa mầu hồng kích thước 24,5 x 17cm để tiện theo dõi trả thưởng.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, công an xã Yên Phong, Công an huyện Yên Mô thành lập 3 tổ công tác, tiến hành kiểm tra hành chính tại gia đình Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H.

Hồi 18 giờ ngày 30/11/2017, Công an huyện Yên Mô kiểm tra hành chính tại gia đình Phạm Thị G phát hiện, Giang đang sử dụng điện thoại di động liên lạc với Nguyễn Thế H để mua bán trái phép số lô, số đề với nhau. Công an huyện Yên Mô đã thu giữ 01 điện thoại samsung, 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Oppo, 02 quyển vở học sinh nhãn hiệu HAITIEN bìa mầu hồng kích thước 24,5 x 17cm; 01 quyển vở Hồng Hà bìa mầu hồng kích thước 24,5 x 16,5cm bên trong các cuốn vở có ghi số và chữ; 01 tệp giấy gồm 26 tờ ghi số và ký hiệu, 05 bút bi các loại, 01 máy tính nhãn hiệu Casio và số tiền 330.000đồng.

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 30/11/2017, Công an huyện Yên Mô kiểm tra hành chính tại gia đình Nguyễn Hữu H. Thu giữ 01 mảnh bìa vỏ cây thuốc lá Thăng Long có ghi chữ và số kích thước 28 x 11 cm ( Hồ khai nhận đây là các số lô, số đề tự tay ghi ra để mua với Phạm Thị G); thu giữ 01 điện thoại Viettel và 01 bút bi smart Booke màu đen)

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 30/11/2017, Công an huyện Yên Mô kiểm tra hành chính tại gia đình Nguyễn Thế H. Thu giữ 01 điện thoại di động samsung 01 quyển sổ tay ghi chép bìa mầu xanh, đỏ có kích thước 8,5 x 12,5 cm và số tiền5.340.000đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị G, NguyễnThế H: Thu giữ của  Nguyễn Thế  H số tiền 20.850.000đồng, thu giữ của Nguyễn Hữu H 02 tờ giấy kẻ ô ly, 01 quyển sổ tay cá nhân kích thước 13 x 8,5cm 01 ví giả da mầu đen bên trong có số tiền 3.440.000đ, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H và 01 tờ lịch treo tường ngày 29/11/2017.

Quá trình điều tra xác định số tiền mà G sử dụng vào việc đánh bạc là19.940.800 đồng; của Nguyễn Hữu H là  6.192.000 đồng và Nguyễn Thế H là 15.508.300 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 21 tháng 03 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố các bị can: Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS; các điểm h, p khoản 1 Điều 46 (áp dụng thêm điểm s đối với bị cáo H); áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với bị cáo G và H, xử phạt:

+ Bị cáo Phạm Thị G từ 12.000.000đồng đến 14.000.000đồng

+ Bị cáo Nguyễn Thế H từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng

+ Bị cáo Nguyễn Hữu H từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điều 106 BLTTHS

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy 3110c, màu đen, máy đã cũ; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu samsung loại máy Galaxy A5, màu vàng, máy đã cũ; 01 điện thoại di động ASUS màu xanh đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 máy điện thoại nhãn hiệu Viettel, máy mầu đen, máy đã cũ; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu samsung, loại máy Galaxy J3, màu vàng, máy đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy 3310, màu đen-trắng, máy đã cũ qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy A37Jw màu trắng hồng, máy đã cũ qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ - đen, máy đã cũ qua sử dụng; 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu CASIO, màu xanh – đen đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 03 bút bi màu đỏ, 01 bút bi màu xanh, 01 bút bi màu đen nhãn hiệu Thiên Long đã qua sử dụng; 01 bút bi nhãn hiệu Smart Baoke.

Trả lại cho Nguyễn hữu H 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H và số tiền 3.440.000đồng (riêng số tiền tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án)

Trả lại cho Phạm Thị G 01 điện thoại di động Samsung loại máy SM-G313Hz, mầu trắng và số tiền 330.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 330.000đồng để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi đánh bạc cụ thể: Nguyễn Thế H số tiền là 8.572.500đồng (Tám triệu, năm trăm bẩy mươi hai nghìn, năm trăm đồng) Nguyễn Hữu H số tiền là 6.192.500đồng (Sáu triệu một trăm chín mươi hai nghìn năm chẵn đồng) Truy thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đinh Quốc Ph số tiền1.580.000đồng (Một triệu năm trăm  tám mươi nghìn đồng); Lê Văn Th số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng); Nguyễn Văn Kh số tiền 3.424.000đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi tư nghìn đồng); Nguyễn Minh T số tiền 1.032.000đồng (Một triệu không trăm ba mươi hai nghìn)

Án phí: Các bị cáo Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng.

Các bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Các bị cáo, người liên quan, người làm chứng đều có lời khai xác định khoảng 18 giờ ngày 30/11/2017 tại nhà ở của mình tại xóm Thị, thôn Khương Dụ, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Thông qua điện thoại di động, Phạm Thị G đã mua, bán trái phép số lô, số đề với Nguyễn Thế H với số tiền 13.748.300đồng; mua, bán trái phép số lô, số đề với Nguyễn Hữu H số lô, số đề với số tiền 6.192.500đồng. Việc mua bán số lô, số đề của G với H và H bị phát hiện khi chưa có kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc. Do đó số tiền mà G sử dụng vào việc đánh bạc là 19.940.800đồng, số tiền H sử dụng vào việc đánh bạc là 6.192.500đồng.

Đối với Nguyễn Thế H, ngày 30/11/2017 tại nhà mình ở xóm Nam Thành, xã Yên Phong, huyện Yên Mô. H sử dụng điện thoại di động bán các số lô, số đề cho Đinh Quốc Ph, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Kh, Nguyễn Minh T với tổng số tiền là 7.136.000đồng. Sau khi mua bán với Ph, Th, Kh và T xong. H mua lại của G các số lô, số đề với G với tổng số tiền là 13.748.300đồng. (Trong đó, H trực tiếp mua của G các số lô, số đề với số tiền 8.572.500đồng; chuyển các số lô, số đề đã mua của Đinh Quốc Ph, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Kh, Nguyễn Minh T cho G với số tiền là 5.175.800đồng, H giữ lại 80 điểm lô tương đương 1.760.000đồng để trả thưởng trực tiếp và cũng bị phát hiện khi chưa có kết quả xổ số). Như vậy tổng số tiền H sử dụng vào việc đánh bạc là 13.748.300đồng + 1.760.000 đồng = 15.508.300đồng.

Hành vi ghi số lô, số đề trái phép nêu trên của Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Điều 248 Tội đánh bạc: “ khoản 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 249 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh, để giáo dục cải tạo các bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về vị trí vai trò: Trong vụ án bị cáo Phạm Thị là người giữ vai trò chính, bị cáo bán các số lô, số đề cho bị cáo H và bị cáo H; số tiền sử dụng vào việc đánh bạc nhiều nhất. Sau bị cáo G đến bị cáo Nguyễn Thế H vừa là người ghi số lô, số đề và cũng là người chơi số lô, số đề với đề với G và những người liên quan, số tiền dùng vào việc đánh bạc sau bị cáo G như vậy bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án; giữ vai trò cuối là bị cáo Nguyễn Hữu H có số tiền dùng vào việc đánh bạc ít nhất.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Bị cáo Phạm Thị G có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có giấy chứng nhận là hộ cận nghèo; Bị cáo Nguyễn Hữu H có giấy chứng nhận tham gia chiến dịch Hồ chí Minh, có huy chương chiến sỹ vẻ vang; đối với Nguyễn Thế H có bố là thương binh hạng 1/4 vì vậy các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[7] Nhân thân: Tất cả các bị cáo là lao động thuần túy, đều có nhân thân tốt

[8] Các bị cáo Phạm Thị G, Nguyễn Thế H nhất thời phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chỉ vì ham chơi nên các bị cáo đã đánh mất mình. Để cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội thì chỉ cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt ít nghiêm khắc là cải tạo không giam giữ cũng đủ để các bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình.

Do các bị cáo đánh bạc nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo G và bị cáo H. Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với Nguyễn Hữu H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội thì chỉ cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt ít nghiêm khắc là phạt tiền cũng đủ để các bị cáo nhìn nhận ra lỗi lầm của mình.

[9] Đối với số tiền mà các bị cáo thỏa thuận trong việc mua, bán các số lô, số đề tương ứng với số tiền các bị cáo chơi đánh bạc: Nguyễn Thế H là 8.572.500 đồng và Nguyễn Hữu H là 6.192.500đồng. Truy thu từ Việc thanh toán tiền với nhau sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc. Khi bị bắt chưa có kết quả sổ xố, do đó cơ quan điều tra chưa thu được số tiền trên, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cũng là căn cứ để khởi tố vụ án, căn cứ định tội do vậy khi quyết định hình phạt thì cần thiết phải truy thu số tiền trên nộp ngân sách Nhà Nước.

[10] Đối với Đinh Quốc Ph, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Kh và Nguyễn Minh T là những người mua số lô, số đề trái phép với Nguyễn Thế H với số tiền cụ thể: Ph 1.580.000đồng, Th 1.100.000đồng, Kh 3.424.000 đồng, T 1.032.000đồng (Đối với số tiền trên những người liên quan đã mua số lô, số đề của H, nhưng chưa thanh toán tiền nên khi quyết định hình phạt cần truy thu nộp ngân sách nhà nước) Đối với hành vi mà người liên quan thực hiện. Căn cứ nghị quyết 41/NQ ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, thì hành vi của Đinh Quốc Ph, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Kh và Nguyễn Minh T, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với Ph, Th, Kh và T là có căn cứ, đúng pháp luật.

[11] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Cơ quan điều tra đã thu giữ cơ quan điều tra đã thu giữ 01 máy tính cầm tay Casio; 09 chiếc điện thoại di động, trong đó có 08 chiếc điện thoại di động là phương tiện, công cụ phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà Nước; 03 bút bi màu đỏ, 01 bút bi màu xanh và 01 bút bi màu đen nhãn hiệu THIEN LONG là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc ví giả da mầu đen bên trong có số tiền 3.440.000đồng và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo ( riêng số tiền 3.440.000 cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

Đối với 01 điện thoại di động Samsung loại máy SM-G313Hz, mầu trắng quá trình điều tra xác định G không sử dụng máy điện thoại này vào thực hiện hành vi phạm tội; số tiền 330.000đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Thị G, số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 26.190.000đồng thu giữ của Nguyễn Thế H, quá trình điều tra xác định là số tiền của ông Nguyễn Văn H ( ông H là bố đẻ của H) ông H gửi H giữ hộ, không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho ông H.

Căn cứ điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[12] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

[13] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248 BLHS; Điều 31; các điểm h, p khoản 1 Điều 46 (áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 46 đối với bị cáo H); khoản 2 điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; (riêng bị cáo Hồ không áp dụng khoản 3 Điều 248, khoản 2 Điều 46, Điều 31 Bộ luật hình sự)

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H phạm tội “ đánh bạc”

2. Về hình phạt

2.1 Xử phạt: Phạm Thị G 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Phạm Thị G.

Giao bị cáo Phạm Thị G cho Uỷ ban nhân dân xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Phạm Thị G thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 luật Thi hành án.

+ Phạt bổ sung 3.000.000đồng (ba triệu đồng).

+ Miễn khấu trừ thu nhập.

2.2 Xử phạt: Nguyễn Thế H 6 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Nguyễn Thế H.

Giao bị cáo Nguyễn Thế H cho Uỷ ban nhân dân xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Nguyễn Thế H thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 luật Thi hành án.

+ Phạt bổ sung 3.000.000đồng (ba triệu đồng).

+ Miễn khấu trừ thu nhập.

2.3 Xử phạt: Nguyễn Hữu H số tiền 6.000.000đ (sáu triệu)

3. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi đánh bạc cụ thể:

3.1 Nguyễn Thế H số tiền là 8.572.500đồng ( Tám triệu, năm trăm bẩy mươi hai nghìn, năm trăm đồng)

3.2 Nguyễn Hữu H số tiền là 6.192.500đồng ( Sáu triệu một trăm chín mươi hai nghìn năm trăm đồng )

3.3 Truy thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Đinh Quốc Ph số tiền 1.580.000đồng ( Một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng)

+ Lê Văn Th số tiền 1.100.000đồng ( Một triệu một trăm nghìn đồng)

+ Nguyễn Văn Kh số tiền 3.424.000đồng ( Ba triệu bốn trăm hai mươi tư nghìn đồng)

+ Nguyễn Minh T số tiền 1.032.000đồng (Một triệu không trăm ba mươi hai nghìn)

4. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

4.1 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại máy 3110c, màu đen, máy đã cũ số IMEI 351963039627090 bên trong có sim điện thoại có số thuê bao 0973179566, máy cũ đã qua sử dụng; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệusamsung loại máy Galaxy A5, màu  vàng số IMEI 1: 358548065468932, số IMEL 2: 358549065468930, máy đã cũ bên trong có sim điện thoại có số thuê bao 0946930122; 01 điện thoại di động ASUS màu xanh đen, số IMEL 1: 35684066904460, số IMEL2: 356584066904478, bên trong có sim điện thoại có số thuê bao 01263002797 máy cũ đã qua sử dụng; 01 phong bì giấy được niêmphong bên trong có 01 máy điện thoại nhãn hiệu Viettel,  máy mầu đen, máy đãcũ; 01 phong bì giấy được niêm  phong bên trong 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu samsung, loại máy Galaxy J3, màu vàng, máy đã cũ; 01 phong bì giấy được niêm phong bên trong 03 điện thoại di động gồm 01 máy nhãn hiệu NOKIA, loại máy 3310, màu đen-trắng, máy đã cũ qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ - đen, có số IMEL 1: 810033600267297, số IMEL 2: 810034600267297, máy đã cũ qua sử dụng bên trong không có sim điện thoại;

+ 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu CASIO, màu xanh – đen đã qua sử dụng.

4.2 Tịch thu tiêu hủy 

+ 03 bút bi màu đỏ, 01 bút bi màu xanh, 01 bút bi màu đen nhãn hiệu Thiên Long đã qua sử dụng; 01 bút bi màu đen nhãn hiệu Smart Baoke.

4.3 Trả lại cho Nguyễn Hữu H 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H và số tiền 3.440.000đồng ( riêng số tiền tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án)

4.4 Trả lại cho Phạm Thị G 01 điện thoại di động Samsung loại máy SM-G313Hz, mầu trắng và số tiền 330.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 330.000đồng để đảm bảo thi hành án.  (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 3 năm 2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô và ủy nhiệm chi số 16 ngày 19/3/2018).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án, buộc Phạm Thị G, Nguyễn Thế H và Nguyễn Hữu H: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


130
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HSST ngày 13/04/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:08/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Mô - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về