Bản án 08/2018/HSST ngày 10/05/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 08/2018/HSST NGÀY 10/05/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2018/TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/HSST- QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Việt L, sinh năm 1991, tại Kiên Giang. Nơi ĐKHKTT và cư trú hiện tại: số 10/8, đường T, khu phố C, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; CMND số: 371423651; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Tr   Thị Thu Th; vợ tên Huỳnh Phương Th và con 01 đứa sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi đánh nhau, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000399/QĐ-XPPHC ngày 03/5/2017 của Công an thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; bị cáo bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 09/L-CQĐT ngày 25/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (bắt ngày 29/12/2017), có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Minh Trí, Luật sư Văn phòng luật sư Trương Minh Trí, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ, có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Hồng V (tự: B), sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 40, đường Đ, khu phố N, phường M, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Quang Ánh, Luật sư Văn phòng Luật sư Quang Ánh, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1964. Địa chỉ: số 120, đường 2/9, khu phố K, phường N, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Hữu Ng, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khu phố N, phường K, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Phạm Quốc V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 71, đường R, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

3. Anh Nguyễn Tấn L (tự: T), sinh năm 1996. Địa chỉ: số 389, ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

4. Anh Lê Thanh T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà 215, Quốc lộ 80, ấp N, xã Y, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.

5. Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 103, đường T, phường N, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

6. Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 10, đường Q, khu phố N, phường K, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.

7. Chị Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1970. Địa chỉ: số 120, đường 2/9, khu phố K, phường N, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 02/11/2017 bà Phạm Thị Hồng V điều khiển xe máy chở theo Trần Hữu Ng đến nhà xe Tuyết M thuộc khu phố K, phường N, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, khi thấy L đang đứng khu vực nhà xe, bà V đi đến hỏi rõ việc L đã đánh Ng thì xảy ra xô sát, L chạy vào cổng rào nhà xe Tuyết M lấy một cây dao tự chế chém một nhát trúng vào cẳng tay trái của bà V gây ra thương tích. Sau khi bị chém bà V tự đến Bệnh viện đa khoa thị xã Hà Tiên điều trị và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị đến ngày 07/11/2017 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 724/KL-PY ngày 19/12/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích đối với bà Phạm Thị Hồng V:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xơ cứng mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng tay trái.

- Đứt gân cơ duỗi các ngón bàn tay trái, hiện còn hạn chế vận động các ngón tay.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12% (Mười hai phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

4. Về chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích số 724/KL-PY ngày 19/12/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Kiên Giang.

Vật chứng trong vụ án:

Một cây dao tự chế cán tròn, màu vàng dài 34,2 cm; lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu xám kích thước (34 x 5,5) cm, đầu mũi dao cong vập.

Ngoài ra trong quá trình điều tra còn thu giữ hai cây dao:

Một cây dao cán bằng nhựa, màu đen, dạng dẹp dài 12 cm; lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, kích thước (21 x 3,6) cm, trên lưỡi dao có ký hiệu KOCH MESSER. Do bà Trần Thị Tuyết M, chủ xe Tuyết M giao nộp.

Một cây dao cán gỗ, màu vàng dạng dẹp dài 12 cm; lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, kích thước (16 x 04) cm, trên lưỡi dao có ký hiệu KT- KNIFE, do Nguyễn Việt L giao nộp.

Vật chứng nêu trên và hai cây dao thu giữ trong quá trình điều tra, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Hồng V yêu cầu Nguyễn Việt L bồi thường số tiền 33.800.000 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng). Ngày 05/3/2018 và ngày 03/4/2018 bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 3.300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKSHT ngày 28-3-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Việt L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hà Tiên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Việt L mức án t   02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về phần bồi thường dân sự, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật; về vật chứng của vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy; đối với hai cây dao do bị cáo và bà M giao nộp trong quá trình điều tra đề nghị trả lại cho bà M.

Luật sư Trương Minh Trí bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm và thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Việt L về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị cáo có con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.

Luật sư Trần Quang Ánh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phát biểu quan điểm và thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố cũng như mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hà Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và lời khai tại phiên tòa là phù hợp với vật chứng của vụ án, kết luận giám định pháp y về thương tích, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 02/11/2017 tại khu phố K, phường N, thị xã P, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Việt L dùng cây dao tự chế chém một nhát trúng vào cẳng tay trái của bà Phạm Thị Hồng V gây ra thương tích 12% nên hành vi của bị cáo vi phạm vào khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Như vậy, hành vi dùng hung khí gây ra thương tích của bị cáo Nguyễn Việt L đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hà Tiên đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của hành vi vi phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì lớn chỉ vì tranh giành khách đi xe và có lời qua tiếng lại mà bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có tác động gia đình bồi thường một phần hậu quả cho bị hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình.

[5] Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; ý kiến của Kiểm sát viên thì không đồng ý quan điểm của luật sư vì bị cáo bồi thường số tiền quá thấp, bị cáo có một tiền sự về hành vi gây thương tích nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có tác động gia đình bồi thường thiệt hại nhưng số tiền bồi thường quá thấp chưa tương xứng với số tiền mà bị cáo phải bồi thường. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích nên Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 33.800.000 đồng nhưng bị cáo không đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử cần tính lại cho phù hợp với quy định pháp luật, cụ thể:

- Chi phí điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Tiên, bệnh viện đa khoa tỉnh kiên Giang có hóa đơn chứng t   là 2.327.150 đồng.

- Tiền xe đi lại 2.000.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất của bị hại trong thời gian điều trị 300.000 đồng x 5 ngày = 1.500.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất của người nuôi bệnh 300.000 đồng x 5 ngày = 1.500.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất sau khi xuất viện 300.000 đồng x 10 ngày = 3.000.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc sau khi xuất viện 300.000 đồng x 10 ngày = 3.000.000 đồng.

- Tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 28.327.150 đồng.

[7] Về vật chứng trong vụ án một cây dao tự chế cán tròn, màu vàng dài 34,2 cm; lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu xám kích thước (34 x 5,5) cm là công cụ dùng vào việc phạm tội và chủ sở hữu cây dao là ông Nguyễn Văn Ch không yêu cầu trả lại nên cần phải tịch thu tiêu hủy.

Đối với hai cây dao được thu giữ trong quá trình điều tra không phải là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Tuyết M.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Việt L phải chịu án phí dân sự và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều  38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; xử phạt: Nguyễn Việt L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2017.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Việt L phải bồi thường cho bà Phạm Thị Hồng V số tiền 28.327.150 đồng, bị cáo đã bồi thường 3.300.000 đồng (trong đó 1.300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 05306 ngày 05/3/2018 và 2.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 05310 ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, bị cáo còn phải bồi thường số tiền còn lại 25.027.105 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm hai mươi bảy nghìn một trăm lẻ năm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Nếu bên phải thi hành chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy một cây dao tự chế cán tròn, màu vàng dài 34,2 cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu xám kích thước (34 x 5,5) cm, đầu mũi dao cong vập.

Trả lại cho bà Trần Thị Tuyết M một cây dao cán bằng nhựa, màu đen, dạng dẹp dài 12 cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, kích thước (21 x 3,6) cm, trên lưỡi dao có ký hiệu KOCH MESSER và một cây dao cán gỗ, màu vàng dạng dẹp dài 12 cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, kích thước (16 x 04) cm, trên lưỡi dao có ký hiệu KT-KNIFE.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Việt L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.251.355 đồng (một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm đồng), tổng hai khoản bị cáo phải nộp là 1.451.355 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi lăm đồng).

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về