Bản án 08/2018/HS-ST ngày 09/02/2018 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 08/2018/HS-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2018/TLST- HS  ngày  08  tháng  01  năm  2018  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số 06/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Chau R, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993, nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau R, họ và tên mẹ: Neàng M; gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng U, sinh năm 1992, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

2. Chau V, sinh năm: 1984, nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau S, sinh năm: 1937, họ và tên mẹ: Neàng C, sinh năm: 1946; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng C, sinh năm 1983, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

3. Chau N, sinh năm: 1983; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau H (đã chết), họ và tên mẹ: Neàng S, sinh năm: 1949; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng Thonl Na R, sinh năm 1991, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

4. Chau Sà N, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1991, nơi sinh: tỉnh An Giang, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau Văn Đ, sinh năm: 1943, họ và tên mẹ: Neàng T, sinh năm: 1955; gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng Sa M, sinh năm 1994, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

5. Chau L, sinh ngày 02 tháng 03 năm 1989; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau A, sinh năm: 1957, họ và tên mẹ: Neàng Xê Đ, sinh năm: 1967; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo có vợ tên Trần Thị Phước H, sinh năm 1984, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

6. Chau P, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1989; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau Q (đã chết), họ và tên mẹ: Neàng H, sinh năm: 1947; gia đình bị cáo có 09 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng M, sinh năm 1992, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 15/5/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, đã xóa án tích. Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

7. Chau Q, sinh năm: 1983, nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau K (đã chết), họ và tên mẹ: Neàng S, sinh năm: 1960; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng T, sinh năm 1990, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

8. Chau Sa M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989, nơi sinh: tỉnh An Giang, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau N, sinh năm: 1962, họ và tên mẹ: Neàng B, sinh năm: 1962; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng Rath Ta N, sinh năm 1995, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

9. Chau Si P, sinh năm: 1980, nơi sinh; tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau P, sinh năm:1947, họ và tên mẹ: Neàng K (đã chết); gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng Bo B, sinh năm 1985, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

10. Chau Chanh Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993, tại tỉnh An Giang, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Chau Đ, sinh năm: 1969, họ và tên mẹ: Neàng N, sinh năm: 1969; gia đình bị cáo có03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo có vợ tên Neàng Sóc N,sinh năm 1994, có 01 con sinh 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

11. Thạch Hòa R, sinh năm: 1985, nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, chỗ ở: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Thạch Thành K (đã chết), họ và tên mẹ: Thạch Thị S, sinh năm: 1957; gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; bị cáo có vợ tên Chau Kim L, sinh năm 1983, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Công an huyện P, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, khu phố M, thị trấn N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn B - Chức vụ: Trưởng Công an huyện Vĩnh Cửu.

Người đại diện theo ủy quyền là ông Dương Văn C – Chức vụ: Đội trưởng Đội cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động Công an huyện Vĩnh Cửu (có mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 01 năm 2018).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đoàn Vũ L, sinh năm: 1985 (có đơn xin vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

Nơi công tác: Công an huyện P, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Huỳnh Văn Hoàng P, sinh năm: 1984 (có đơn xin vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

Nơi công tác: Công an huyện P, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Phan Trọng Đ, sinh năm: 1992 (có đơn xin vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. Nơi công tác: Công an huyện P, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Trần Quốc T, sinh năm: 1990 (có đơn xin vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã N, thành phố P, tỉnh Đồng Nai.

Nơi công tác: Công an huyện P, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm: 1982 (có đơn xin vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Nơi công tác: Công an P, tỉnh Đồng Nai.

- Người phiên dịch: Bà Neàng C, sinh năm: 1953 (có mặt) Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 158/KH-BATGT ngày 18/01/2017 của Ban an toàn giao thông về việc thực hiện năm an toàn giao thông 2017, Công an huyện P có Kế hoạch số 116 KH/CAH-CSGT ngày 13/02/2017 về việc thực hiện công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông năm 2017. Ngày 20/02/2017, Đội cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động có Kế hoạch số 77/KH-CSGT-TT-CĐ ngày 20/02/2017 về việc bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông (thời gian từ ngày 20/02/2017 đến ngày 26/02/2017).

Ngày 22/02/2017, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông, trật tự, cơ động Công an huyện P (từ đây gọi tắt là Tổ tuần tra) gồm có các ông: Đoàn Vũ L, Huỳnh Văn Hoàng P, Phan Trọng Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Ngọc A thực hiện tuần tra, kiểm soát lưu động với dừng 01 điểm trên các tuyến đường từ xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu đến Trạm thu phí xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu. Trong đó có điểm tại ấp Ông Hường, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu với nhiệm vụ xử lý người điều khiển phương tiện giao thông vi phạm quy định về nồng độ cồn, quá tải, quá khổ và các hành vi khác dẫn đến vi phạm an toàn giao thông.

Tổ tuần tra sử dụng trang phục ngành theo quy định, thời gian kiểm tra từ: 06 giờ - 12 giờ 30 phút; 13 giờ 30 phút – 18 giờ 30 phút; 19 giờ - 06 giờ sáng hôm sau. Công cụ và phương tiện được trang bị xe ô tô biển số 60C-1202, xe mô tô biển số 60A1-000.43, máy đo tốc độ, máy đo nồng độ cồn, súng, còi, gậy giao thông, các loại biên bản: vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện, Quyết định tạm giữ phương tiện, Quyết định xử phạt thủ tục đơn giản, Sổ nhật ký tuần tra, Sổ giao nhận công cụ, phương tiện.

Cụm công nghiệp Thạnh Phú - Thiện Tân có 19 công ty khoảng 8.000 công nhân. Phần đa số là người dân tộc Khơ Me, có trình độ nhận thức pháp luật về giao thông hạn chế. Khoảng 6 giờ 45 phút, ngày 22/02/2017, Tổ tuần tra thực thi nhiệm vụ tại Ngã ba đường 768 và Cụm công nghiệp thuộc ấp Ông Hường, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu. Một số công nhân vi phạm Luật giao thông đường bộ bị lực lượng Tổ tuần tra xử lý theo quy định của pháp luật, không đồng tình với việc xử lý của Tổ tuần tra nên đám đông khoảng hơn 100 người chủ yếu là công nhân Công ty Thành Phú Phát và Công ty Minh Thành kéo đến dùng lời nói thiếu văn hóa, la hét, trong đó có nhiều người dùng gạch, đá có ở hiện trường tấn công lực lượng Tổ tuần tra nhằm mục đích không cho Tổ tuần tra xử lý người vi phạm.

Trước sức ép của đám đông công nhân và để đảm bảo an toàn lực lượng Tổ tuần tra buộc phải rút khỏi điểm kiểm tra. Ông Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô biển số 60A1-000.43; ông Trần Quốc T điều khiển xe ô tô biển số 60C-1202 rút khỏi hiện trường thì xe ô tô đụng vào xe mô tô của anh Bùi Văn R. Các đối tượng công nhân dùng gạch, đá có sẵn ở hiện trường và dùng tay, chân tấn công lực lượng Tổ tuần tra đang thực thi nhiệm vụ, làm cho Tổ tuần tra không thực thi được nhiệm vụ như kế hoạch đề ra.

Hậu quả:

- Xe mô tô biển số 60A1-000.43 hư hỏng: Vỡ cụm đèn, còi ưu tiên, cụm đèn báo km, mặt nạ xe, yếm chắn gió, bình dựng xăng móp méo;

- Xe ô tô biển số 60C-1202 bị hư hỏng: Vỡ kính chắn gió phía trước, vỡ  kính hai bên cabin xe, hai gương chiếu hậu, bong tróc sơn;

Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu kết luận tổng thiệt hại 02 xe là 36.200.000 đồng.

Anh Trần Quốc T bị xây xước da kích thước 3 x 1,5cm không yêu cầu bồi thường.

Xe mô tô của anh Bùi Văn R bị hư hỏng. Công an huyện P đã sửa chữa, anh Rồng không yêu cầu gì thêm.

Tang vật thu giữ:

- 01 xe ô tô biển số 60C-1202.

- 01 xe mô tô biển số 60A1-000.43.

- 04 cục đá kích thước 4 x 6 cm.

Xử lý vật chứng: Xe ô tô biển số 60C-1202 và xe mô tô biển số 60A1-000.43 hiện Công an huyện P đang trực tiếp quản lý, sử dụng để thực hiện nhiệm vụ chung của đơn vị.

Trước khi mở phiên tòa, Công an huyện P yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền 36.200.000 đồng, các bị cáo chưa bồi thường. Tuy nhiên, tại phiên tòa Công an huyện P chỉ yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 24.100.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường 2.191.000 đồng. Các bị cáođồng ý bồi thường theo yêu cầu của Công an huyện P.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, các bị cáo khai nhận như sau:

1. Châu R: Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 22/02/2017, Chau Rô đến Công ty Thành Phú Phát. Thấy mọi người rủ nhau đi ra Đường 768 để đuổi Lực lượng cảnh sát giao thông không cho họ đứng để bắt xe vi phạm. Châu R cũng đi theo đến gặp cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động phản đối về việc bắt giữ xe. Chau R cùng một số người đẩy mấy anh cảnh sát ra phía đường lớn thì họ bỏ chạy. Một số người cầm đáném theo mấy anh cảnh sát, Chau R đuổi theo 10 m thì quay lại thấy xe ô tô của lực lượng cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau R nhặt đá ném vào xe ô tô hai lần, khi xe ô tô đi khỏi Chau R thấy nhiều người nhặt đá ném vào xe mô tô của cảnh sát ở ven đường. Chau R cũng nhặt đá ném vào xe mô tô.

2. Chau V: Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 22/02/2017, Chau V đến Công ty Thành Phú Phát thì bị Lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động bắt vi phạm Luật giao thông đường bộ. Đến 6 giờ 45 phút, nghe thấy mọi người nói ra ngoài đuổi cảnh sát giao thông đi, do bị phạt Chau V bức xúc cũng đi theo thấy có khoảng 200 người đang vây quanh cảnh sát. Chau V đến cự cãi với anh cảnh sát, một cảnh sát đưa tay chỉ về phía Chau V thì bị Chau V gạt tay ra, lúc này có người đuổi đánh cảnh sát, Chau V cũng đuổi theo nhưng chưa đánh được ai. Xe ô tô lùi va chạm với xe mô tô của công nhân thì mọi người nhặt đá ném vào xe ô tô của cảnh sát. Chau V cũng nhặt đá ném về phía ô tô hai lần nhưng không rõ trúng vào đâu và hai lần ném trúng hông xe mô tô của cảnh sát.

3. Chau N: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau N đi làm tại Công ty Thành Phú Phát, khi đến đường vào công ty, Chau N gặp Danh A thì được biết Danh A bị phạt hành chính 300.000 đồng với lỗi không bật đèn xi nhan. Khi hai người đang nói chuyện thì số công nhân của Công ty Thành Phú Phát và Công ty Minh Thành nói với nhau đến đuổi cảnh sát giao thông đi chỗ khác, không cho bắt phạt công nhân. Chau N và Danh A cũng đi theo, lúc này có khoảng 200 công nhân kéo đến yêu cầu Lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động đang làm nhiệm vụ đi chỗ khác không được bắt xe. Hai bên cự cãi thì có nhiều công nhân nhặt đá ném vào Lực lượng cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ. Chau N nhặt đá ném theo cảnh sát nhưng không trúng ai. Khi quay lại thấy xe mô tô của cảnh sát ở ven đường, Chau N nhặt đá ném trúng phần nhựa đầu xe mô tô.

4. Chau Sà N: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau Sà N đến Công ty Thành Phú Phát thấy nhiều người đang cự cãi với Lực lượng cảnh sát giao thông nên đứng xem. Khoảng 10 phút nhiều người rượt đuổi, cảnh sát giao thông bỏ chạy ra Đường 768. Chau Sà N cũng tham gia rượt đuổi cảnh sát giao thông. Xe ô tô của Lực lượng cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau Sà N hai lần nhặt đá ném về phía xe ô tô của cảnh sát. Cảnh sát lái xe ô tô bỏ chạy thì Chau Sà N đi vào công ty làm việc.

5. Chau L: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau L đi làm tại Công ty Thành Phú Phát, khi đến cổng Công ty Chau L nghe thấy mọi người rủ nhau ra đuổi cảnh sát giao thông không cho họ bắt xe. Khi đến ngã ba thấy 04 cảnh sát giao thông đang đứng có khoảng 100 người vây quanh la hét chửi bới. Chau L chửi bậy lực lượng Cảnh sát giao thông, khi thấy xe ô tô lùi cán vào một xe mô tô của công nhân, Chau L đã nhặt đá ở ven đường ném trúng kính phía trước xe ô tô, cục đá thứ hai Chau L ném trúng cửa bên phải xe ô tô. Xe ô tô đi khỏi Chau L thấy xe mô tô của cảnh sát ở ven đường, Chau L nhặt đá ném trúng mặt nạ xe mô tô.

6. Chau P: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau P đến Công ty Thành Phú Phát. Sau khi mua đồ ăn sáng, Chau P thấy công nhân nói ra đầu đường để đuổi cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động không cho bắt xe mô tô của công nhân vi phạm. Chau P đi theo đến gặp cảnh sát giao thông yêu cầu họ đi chỗ khác. Khi thấy mọi người xông vào đuổi cảnh sát giao thông, thì Chau P nhặt cục đá ném vào kính chiếu hậu xe ô tô nhưng không trúng, xe ô tô lùi va chạm với xe mô tô của công nhân thì mọi người nhặt đá ném vào xe ô tô. Xe ô tô đi khuất, Chau P thấy xe mô tô của cảnh sát giao thông ở ven đường, liền nhặt đá ném trúng còi ưu tiên và dùng chân đạp vào bánh trước xe mô tô sau đó bỏ đi. Thấy mọi người tiếp tục ném đá vào xe mô tô, Chau P tiếp tục nhặt đá ném vào xe mô tô của cảnh sát giao thông nhưng không rõ trúng vào đâu.

7. Chau Q: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau Q đi làm tại Công ty Thành Phú Phát, trên đường đi gặp nhiều người công nhân đang cự cãi với Lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động làm nhiệm vụ. Lực lượng cảnh sát bỏ đi thì có một ngưởi điều khiển xe ô tô của cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau Q tham gia hai lần nhặt đá ném vào xe ô tô của cảnh sát,  khi xe ô tô đi khỏi còn xe mô tô vẫn nằm ở ven đường Chau Q hai lần nhặt đá ném vào xe mô tô nhưng không xác định rõ vị trí.

8. Chau Sa M: Khoảng 06 giờ 40 phút, ngày 22/02/2017, Chau Sa M đến Công ty Thành Phú Phát. Khi ra đến đầu đường, thấy khoảng 100 người đang vây quanh 05 cảnh sát giao thông và la hét, thì lực lượng cảnh sát giao thông bỏ đi. Xe ô tô lùi va chạm với xe mô tô của công nhân thì mọi người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau Sa M thấy xe mô tô của cảnh sát giao thông ở ven đường, Chau Sa M nhặt đá ném vào xe ô tô làm rạn kính phía trước và kính cửa bên phải xe ô tô và 02 lần ném đá vào xe mô tô cảnh sát.

9. Chau Si P: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau Si P điều khiển xe mô tô biển số 67N1-160.96 đến Công ty Thành Phú Phát, khi đi qua Tổ tuần tra giao thông thì bị kiểm tra nhưng không có vi phạm. Chau Si P đi được khoảng 200 m thì nhìn lại thấy khoảng 20 công nhân nói tiếng dân tộc đi ra đuổi cảnh sát, không cho bắt xe ở vị trí này. Khoảng 100 công nhân gây áp lực cho cảnh sát, họ đã rời khỏi vị trí, xe ô tô của lực lượng cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau Si P cũng nhặt đá ném vào xe ô tô trúng bạt xe. Khi nghe thấy tiếng hô đập xe đi thì Chau Si P tiếp tục nhặt đá ném vào xe mô tô của cảnh sát ở ven đường trúng vào thùng sắt và phía đèn trước của xe.

10. Chau Chanh Đ: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Chau Chanh Đ đến Công ty Thành Phú Phát thấy nhiều người đang cự cãi với Lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động về việc bắt xe mô tô vi phạm. Chau Chanh Đ đứng ngoài xem nhiều người ném đá về phía cảnh sát giao thông. Xe ô tô của lực lượng cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Chau Chanh Đ nhặt một cục đá ném về phía đầu xe ô tô. Cảnh sát lái xe ô tô bỏ chạy, sau đó Chau Chanh Đ đi vào công ty làm việc.

11. Thạch Hòa R: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/02/2017, Thạch Hòa R điều khiển xe mô tô biển số 67F1-183.02 đến Công ty Thành Phú Phát. Đến Ngã ba đường giao khu công nghiệp với đường 768 có Tổ tuần tra cảnh sát làm nhiệm vụ, Thạch Hòa R bị dừng xe kiểm tra, do không có giấy phép lái xe nên đã bị xử lý vi phạm. Thạch Hòa R đi ăn sáng xong thì thấy khoảng 60 người đang la hét với lực lượng cảnh sát giao thông. Xe ô tô của lực lượng cảnh sát lùi xe đụng vào xe của công nhân thì nhiều người nhặt đá ném vào xe ô tô. Thạch Hòa R thấy xe mô tô củacảnh sát ở ven đường đã đến dùng tay bẻ phần nhựa chắn gió mặt đồng hồ xe.

Một số công nhân do bất đồng với việc Tổ tuần tra xử lý người vi phạm Luật giao thông đường bộ. Mục đích của số đông công nhân không muốn Tổ tuần tra đứng tại vị trí ấp Ông Hường, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu xử lý xe mô tô vi phạm luật. Họ đã bộc phát có lời nói thiếu văn hóa, xô đẩy, đuổi đánh Tổ tuần tra. Trong đó có 11 đối tượng dùng tay, chân hoặc dùng gạch, đá có ở hiện trường tấn công Lực lượng Tổ tuần tra nhằm mục đích đẩy, đuổi không để họ đứng trực xử lý công nhân thuộc các công ty trong Khu công nghiệp xã Thạnh Phú vi phạm an toàn giao thông.

Đối với Chau D có tham gia chống đối Tổ tuần tra. Do hồ sơ công nhân khai địa chỉ không có thực. Kết quả xác minh, Chau D có chứng minh mang tên Rath Yiet, sinh năm 1995 xóm M, xã N, huyện P, tỉnh Tà Keo, Campuchia. Cơ quan điều tra đang xác minh tại lãnh sự quán, khi nào có kết quả xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 74/CT/VKS-HS ngày 10/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Chau Chanh Đ, Chau L, Chau N, Chau P, Chau Q, Chau R, Chau Sa M, Chau Sà N, Chau Si P, Chau V và Thạch Hòa R về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh ĐồngNai giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 257, 60, 31 của Bộ luật Hình sự năm 1999, tuyên bố các bị cáo Chau Chanh Đ, ChauL,  Chau N, Chau P, Chau Q, Chau R, Chau Sa M, Chau Sà N, Chau Si P, Chau V và Thạch Hòa R phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và xử phạt các bị cáo Chau L, Chau N, Chau P, Chau R, Chau Sà N, Chau V từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án. Xử phạt các bị cáo Chau Chanh Đ, Chau Sa M, Chau Q, Chau Si P, Thạch Hòa R từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công an huyện P số tiền 24.100.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường 2.191.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 04 cục đá kích thước 4 x 6 cm. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, phần xét hỏi, tranh luận và nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R đồng ý với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

- Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự Công an huyện P tại phiên tòa: Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và chỉ yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công an huyện P số tiền 24.100.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường 2.191.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phaïm toäi “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã truy tố. Từ đó xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/02/2017 tại: ấp Ông Hường, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Tổ tuần tra thực thi nhiệm vụ nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến đường 768. Khi Tổ tuần tra đang xử lý người vi phạm thì bị hơn 100 công nhân (trong đó có Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ, Thạch Hòa R) đã tự phát phản đối (không có sự phân công, bàn bạc từ trước) bằng việc thực hiện hành vi xô đẩy, đuổi đánh hoặc dùng gạch, đá có ở hiện trường tấn công lực lượng Tổ tuần tra và ném đá vào xe ô tô, mô tô của Tổ tuần tra nhằm mục đích không cho Tổ tuần tra xử lý xe vi phạm. Do bị chống đối Tổ tuần tra không thực thi được nhiệm vụ theo kế hoạch và phương tiện dùng để thực thi nhiệm vụ bị hư hỏng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R tuy là ít nghiêm trọng, nhưng nguy hiểm cho xã hội, ñaõ xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước là Công an huyện P được pháp luật bảo vệ; gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Các bị cáo làngười có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được Tổ tuần tra đang làmnhiệm vụ giữ gìn trật tự tại nơi công cộng, với các công cụ, phương tiện chuyên dụng như xe ô tô và mô tô chuyên dụng, trang phục ngành nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi xô đẩy, đuổi đánh, hoặc dùng gạch, đá có ở hiện trường tấn công vàném đá vào xe ô tô, mô tô của Tổ tuần tra. Dẫn đến Tổ tuần tra không thực hiện được nhiệm vụ được giao và phương tiện được trang bị bị hư hỏng. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét:

- Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chỉ mang tính bộc phát, nhất thời, không có tổ chức, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau.

- Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: phân hóa thành hai nhóm:

+ Nhóm các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P biết Tổ tuần tra đang làm nhiệm vụ với các công cụ, phương tiện chuyên dùng nhưng vẫn thực hiện hành vi xô đẩy, đuổi đánh hoặc dùng gạch, đá có ở hiện trường tấn công Tổ tuần tra.

+ Nhóm các bị cáo Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R biết Tổ tuần tra đang làm nhiệm vụ với các công cụ, phương tiện chuyên dùng, tuy không trực tiếp thực hiện hành vi xô đẩy, đuổi đánh hoặc dùng gạch, đá tấn công nhưng đã ném đá vào xe ô tô, mô tô của Tổ tuần tra; giúp sức tạo động lực đám động cho các bị cáo khác thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ.

- Về nhân thân của các bị cáo: Đối với bị cáo Chau P: ngày 15/5/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (đã xóa án tích). Các bị cáo khác đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (trừ bị cáo Chau P); các bị cáo có trình độ văn hóa thấp (trừ bị cáo Chau Si P), nhận thức pháp luật kém; tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại h, p Khoản1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Từ những tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L và Chau P có đủ cơ sở áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách; các bị cáo Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R áp dụng Điều 29, 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt cảnh cáo cũng đủ răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn dân sự Công an huyện P yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền thiệt hại về tài sản theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu là 36.200.000 đồng. Các bị cáo chưa bồi thường. Tuy nhiên tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự chỉ yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền 24.100.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 2.191.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường.

Căn cứ quy định tại các Điều 357, 584, 585, 586, 587, 589 và 689 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Tòa án nhân dân tối cao thì có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn dân sự. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân sự Công an huyện Vĩnh Cửu số tiền 24.100.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 2.191.000 đồng.

[4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 04 (bốn) cục đá kích thước 4 x 6 cm (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu). Đối với 01 xe ô tô biển số 60C-1202, 01 xe mô tô biển số 60A1- 000.43 Công an huyện P đã giao trả cho Công an huyện P quản lý, sử dụng nên không xem xét.

[5]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Khoản 1, 3 Điều 21, Điểm a, c,  d  Khoản  1  Điều  23,  Khoản  1,  2  Điều  26,  Điều  48  của  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáoChau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7]. Đối với Chau D: Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh tại lãnh sự quán Campuchia, khi nào có kết quả xử lý sau nên không xem xét.

[8]. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 45, 46, 250, 254, 255, 259, 260, 262, 263, Khoản 1 Điều268, Khoản 1 Điều 269, các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 332, 333, 339 và Điều 509 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 1, Điều 4, Khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

[1]. Tuyên bố: các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

* Đối với các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 257, Điều 45, Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Khoản 1, 2, 4 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Xử phạt các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L mỗi bị cáo06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.

* Đối với bị cáo Chau P:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 257, Điều 45, Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Khoản 1, 2, 4 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Xử phạt bị cáo Chau P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Chau R, Chau N, Chau Sà N, Chau L và Chau P cho Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nơi các bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Các bị cáo Chau R, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P và các cơ quan liên quan phải chấp hành theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự, cụ thể như sau:

- Trường hợp trong thời gian thử thách các bị cáo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Phú có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

- Trường hợp trong thời gian thử thách các bị cáo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu có trách nhiệm làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi các bị cáo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật Thi hành án Hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Giao bị cáo Chau V cho Uỷ ban nhân dân xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh

Đồng Nai (nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Chau V và các cơ quan liên quan phải chấp hành theo Điều 69 của LuậtThi hành án hình sự, cụ thể như sau:

- Trường hợp trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Uỷ ban nhân dân xã Thiện Tân có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

- Trường hợp trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu có trách nhiệm làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật Thi hành án Hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

* Đối với các bị cáo Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và ThạchHòa R:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 257, Điều 29, Điều 45, Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Xử phạt các bị cáo Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và ThạchHòa R cảnh cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ quy định tại các Điều 357, 584, 585, 586,587, 589 và 689 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Tòa án nhân dân tối cao. Buộc các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R phải liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân sự Công an huyện P số tiền 24.100.000 đồng (hai mươi bốn triệu một trăm ngàn đồng). Trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 2.191.000 đồng (hai triệu một trăm chín mươi mốt ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hánh án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 04 (bốn) cục đá kích thước 4 x 6 cm (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).

[5]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Khoản 1, 3 Điều 21, Điểm a, c,  d  Khoản  1  Điều  23,  Khoản  1,  2  Điều  26,  Điều  48  của  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Chau R, Chau V, Chau N, Chau Sà N, Chau L, Chau P, Chau Q, Chau Sa M, Chau Si P, Chau Chanh Đ và Thạch Hòa R, nguyên đơn dân sự Công an huyện P được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Đoàn Vũ L, Huỳnh Văn Hoàng P, Phan Trọng Đ, Trần Quốc T, Nguyễn Ngọc A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


202
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về