Bản án 08/2018/HSST ngày 07/02/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 08/2018/HSST NGÀY 07/02/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2017/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147.1/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết B; sinh năm 1990 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Viết Đ và bà: Nguyễn Thị Kiều Mộng T; tiền sự: không; tiền án: 01 (ngày 25/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 73/2015/HSST); nhân thân: /; bị bắt giữ ngày: 31/8/2017. (Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kiều Mộng T – Sinh năm 1964.

Nơi cư trú: đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 15 ngày 31/8/2017, tại phòng 203 khách sạn “Minh Bình 2” – địa chỉ: 95/14 đường Bắc Hải, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 10 tiến hành kiểm tra hành chính, thu giữ từ B: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu (để trong túi quần bên phải phía trước), 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, 01 chiếc xe mô tô biển số 59P2 - 006.17. Vụ việc được Công an Phường 15, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1481/KLQĐ-H ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể rắn không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có 02 dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Viết B và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10, gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4883g, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định như sau: khoảng 13 giờ 00 ngày 31/8/2017, B điều khiển xe mô tô biển số 59P2 - 006.17 đến nhà Phạm Minh S – địa chỉ: 33/12 đường Hưng Hóa, Phường 6, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để cùng sử dụng ma túy; sau đó, S nhờ B bán ma túy cho một đối tượng khác (không rõ lai lịch) tại khách sạn “Minh Bình 2” với giá 2.000.000 đồng, B đồng ý; S đưa cho B 01 gói ma túy và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 để liên lạc với người mua ma túy; B điều khiển xe đến khách sạn “Minh Bình 2”, thuê phòng và chờ người mua ma túy đến để bán thì lực lượng Công an kiểm tra và bắt giữ như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Nguyễn Viết B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Riêng đối tượng mua ma túy (không xác định được lai lịch, địa chỉ) và Phạm Minh S (qua xác minh không xác định được địa chỉ cư trú hiện tại để mời làm việc), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện, làm rõ và xử lý sau.

Đối với chiếc chiếc xe mô tô biển số 59P2 - 006.17, qua xác minh chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Kiều Mộng T (mẹ của bị cáo B); việc B sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bà T không biết; nên cơ quan điều tra đã giao trả lại chiếc xe trên cho bà T.

Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Viết B về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo Nguyễn Viết B đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Viết B đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng tái phạm, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; khoản 1 Điều 53; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Viết B; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay và chữ ký ghi tên Nguyễn Viết B và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); là vật cấm lưu hành; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, không có giá trị; vậy đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, là phương tiện phạm tội; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, quá trình điều tra xác định không phải là phương tiện phạm tội; nhưng đề nghị áp dụng Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; kê biên lại đề đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Viết B.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Nguyễn Viết B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép: 2,4883g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để bán lại cho người khác; chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn; đồng thời xét thấy tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có những quy định có lợi đối với bị cáo và hành vi của bị cáo thực hiện trước 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018; do vậy theo hướng dẫn tại Nghị quyết  số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điề 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; ngoài ra bản thân bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: ngày 25/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, nhưng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý, hành vi này là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

[4] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay và chữ ký ghi tên Nguyễn Viết B và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10;); là vật cấm lưu hành; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, không có giá trị; vậy áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, là phương tiện phạm tội; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, quá trình điều tra xác định không phải là phương tiện phạm tội; nhưng áp dụng Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; kê biên lại để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Viết B.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Viết B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Viết B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 1 Điều 53; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Viết B;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết B 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2017.

Phạt bổ sung bị cáo B 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay và chữ ký ghi tên Nguyễn Viết B và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10).

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280.

Căn cứ vào Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; kê biên lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Viết B.

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2017 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo B chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.


146
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về