Bản án 08/2018/HS-PT ngày 29/01/2018 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 

BẢN ÁN 08/2018/HS-PT NGÀY 29/01/2018 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 29 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 03/2018/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Ung Thị Diễm Tr. Do có kháng cáo của bị cáo Ung Thị Diễm Tr đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương.

Bị cáo kháng cáo: Ung Thị Diễm Tr sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B xã A huyện P tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ung Văn Q sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S sinh năm 1972; chồng tên Huỳnh Thanh Đ sinh năm 1991; có 01 người con sinh năm 2015; tiền sự tiền án: Không; bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Khoảng 8 giờ ngày 11/8/2017 Mai Văn Th và Lê Hữu T đến quán cà phê “B” do bà Lương Thị K làm chủ thuộc khu phố 9 thị trấn P huyện P tỉnh Bình Dương để uống nước và mua dâm. Tại đây Th thỏa thuận với Ung Thị Diễm Tr là nhân viên của quán về việc mua bán dâm với giá 350.000 đồng/01 lần và Tr là người trả tiền phòng nên Th đưa trước cho Tr số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Đồng thời T nhờ Tr giới thiệu cho T một người để T mua dâm nên Tr dùng điện thoại di động có số thuê bao 01654989819 gọi vào điện thoại di động có số thuê bao 0975600041 của Nguyễn Thị N báo cho N biết có khách có nhu cầu mua dâm nếu N đồng ý bán dâm thì đến nhà nghỉ M do bà Đặng Thị B làm chủ thuộc khu phố 7 thị trấn P huyện P tỉnh Bình Dương để bán dâm. Khi N đến nơi N cùng Tuyến Tr cùng Th đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng Công an kiểm tra nhà trọ phát hiện và bắt quả tang.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ung Thị Diễm Tr phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; các điểm h p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009: Xử phạt bị cáo Ung Thị Diễm Tr 06 (sáu) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng án phí quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 01/12/2017 bị cáo Ung Thị Diễm Tr làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Ung Thị Diễm Tr được thực hiện đúng quy định pháp luật và còn trong thời hạn định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm để xem xét giải quyết kháng cáo của bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Bị cáo Tr môi giới không vì tư lợi mà vì ban bè nên môi giới mại dâm cho N. Bị cáo Tr có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nhân thân tốt nơi cư trú rõ ràng có con nhỏ chưa có tiền án tiền sự nên đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận nhận kháng cáo của bị cáo Tr cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm.

Bị cáo Ung Thị Diễm Tr nói lời sau cùng: Bị cáo có con nhỏ hoàn cảnh gia đình khó khăn; có nơi cư trú rõ ràng và nhân thân tốt nên mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian chăm lo cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử  nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Ung Thị Diễm Tr lập ngày 01 tháng 12 năm 2017 được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dântỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ung Thị Diễm Tr đã khai nhận hành vi ph m tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ ngày 11/8/2017 tại quán cà phê “B” do bà Lương Thị K làm chủ Mai Văn Th đã thỏa thuận với bị cáo Ung Thị Diễm Tr là nhân viên của quán về việc mua bán dâm với giá 350.000 đồng/01 lần. Đồng thời bạn của Th là Lê Hữu T nhờ bị cáo Tr giới thiệu cho 01 người để T mua dâm nên bị cáo Tr gọi điện thoại cho Nguyễn Thị N nói có khách muốn mua dâm nếu đồng ý thì đến nhà nghỉ M thuộc khu phố 7 thị trấn P huyện P tỉnh Bình Dương. Khi N đến nơi N cùng T, Tr cùng Th đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi môi giới mại dâm của bị cáo Tr là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng; tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh của xã hội đến đạo đức truyền thống và thuần phong mỹ tục của dân tộc; ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo Tr nhận thức được hành vi môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Bị cáo Tr có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi ph m tội của mình theo quy định của pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tr về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Bị cáo Tr kháng cáo xin được hưởng án treo xét thấy: Bị cáo Tr có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự có nơi cư trú rõ ràng; gia đình bị cáo có công với cách mạng (ông ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất). Bị cáo môi giới không vì tư lợi mà vì bạn bè nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù đối với bị cáo là nghiêm khắc chưa xem xét hết nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo; việc không cách ly bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội. Như vậy bị cáo có đầy đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội nhân thân của bị cáo và những tình tiết giảm nhẹ nêu trên nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà giao bị cáo về Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục đối với bị cáo. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo.

[4] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ung Thị Diễm Tr không phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ung Thị Diễm Tr. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 của Toà án nhân dân huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình ph t đối với bị cáo Ung Thị Diễm Tr.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; các điểm h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:

Xử phạt bị cáo Ung Thị Diễm Tr 06 (sáu) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm kề từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 29/01/2018).

Giao bị cáo Ung Thị Diễm Tr cho Ủy ban nhân dân xã A huyện P tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Tr có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ung Thị Diễm Tr không phải nộp.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


165
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về