Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 về ly hôn và nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NC, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/01/2018 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 30/01/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NC xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2017/TLST - HNGĐ ngày 28/11/2017 về việc Ly hôn và nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST - DS ngày 19/01/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Ch, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ L, thành phố T H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T H, thị trấn N C, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện chị Ch nộp ngày 27/11/2017 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Thị Ch trình bày:

Về hôn nhân: Chị Ch và anh Th xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý. Tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn ngày 06/4/2011 tại UBND xã Đ L, huyện Đ S (nay là thành phố T H), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến tháng 9/2012 mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân: Do tính tình không hợp, điều kiện kinh tế lại khó khăn, vợ chồng không có việc làm ốn định, nên thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Tháng 12/2012 chị đưa con về ngoại ở đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị và anh Th sống ly thân và chấm dứt quan hệ sinh lý từ đó. Hiện chị không có thai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên xin được ly hôn anh Th. Ngày 19/01/2018 chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Về con chung: Chị và anh Th có 1 con chung là Nguyễn Hữu Gi, sinh ngày 28/9/2011 cháu khỏe mạnh phát triển bình thường, hiện đang ở với chị. Nguyện vọng của chị xin được nuôi con, không  yêu cầu anh Th cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa anh Nguyễn Hữu Th tự khai như sau: Thời điểm kết hôn anh thống nhất như chị Ch trình bày. Thời điểm và nguyên nhân mâu thuẫn anh trình bày như sau:  Năm 2012 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Cuối năm 2012 chị Ch đưa con về ngoại ở không quan tâm đến anh. Quá trình anh bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, chị Ch cũng không đến động viên hỏi thăm anh. Hiện anh Th xác định không còn tình cảm với chị Ch, nên đồng ý ly hôn và anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Về con chung: Anh thống nhất như chị Ch đã trình bày và đồng ý giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, sau này về anh sẽ có trách nhiệm với con sau.

Về tài sản và nợ chung: Anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa xét xử công khai hôm nay anh Th và chị Ch đều có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về Tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49 Bộ luật TTDS. Đương sự đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 bộ luật TTDS. Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83  Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 228, khoản 4 Điều 147, điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015. Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX: Về hôn nhân cho chị Đào Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Hữu Th.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu Gi, cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, phần cấp dưỡng nuôi con chị Ch không yêu cầu. Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Ch phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án : Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]  Về tố tụng: Chị Ch và anh Th đều có đơn xin đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ  Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Th và chị Ch là đúng quy định.

[2]  Về nội dung:

- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị Ch và anh Nguyễn Hữu Th là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, anh chị đều không có công ăn việc làm ổn định dẫn đến điều kiện kinh tế khó khăn. Vợ chồng không tự dàn xếp được nên đã xảy ra mâu thuẫn.

Đánh giá mâu thuẫn và thực trạng cuộc sống vợ chồng: Anh Th, chị Ch  sống ly thân đã 5 năm, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Ch và anh Th đã mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị Ch xin ly hôn, về phía anh Th cũng xác định tình cảm không còn và đồng ý  ly hôn. HĐXX xét thấy đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

- Về con chung: Chị  Ch và anh Thiết có 1 con chung, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, hiện đang ở với chị. Khi ly hôn chị Ch xin được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Về phía anh Th đồng ý giao con cho chị Ch nuôi. HĐXX xét thấy yêu cầu của 2 bên là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

- Về tài sản và nợ chung: Chị Ch và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

-   Về án phí: Chị Đào Thị Ch khởi kiện vụ án xin ly hôn nên chị phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, mục 1 phần II của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận chị Đào Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Hữu Th.

2. Về con chung: Giao cho chị Đào Thị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu Gi, sinh ngày 28/9/2011. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung hai bên không yêu cầu.

Anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Ch và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đào Thị Ch phải nộp 300.000đ án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí  mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NC theo biên lai thu số AA/2015/0006524 ngày 28/11/2017. Chấp nhận chị Ch đã nộp đủ tiền án phí DSST.

5. Quyền kháng cáo: Chị Ch, anh Th được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


87
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 về ly hôn và nuôi con chung

Số hiệu:08/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nông Cống - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về