Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 02 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2017/TLST-HNGĐ ngày13 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp “Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị S - Sinh năm 1994.

- Địa chỉ: Thôn Đ - xã T - huyện LN  - tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Hoàng Văn B - Sinh năm 1990.

- Địa chỉ: Thôn Đ - xã T - huyện LN  - tỉnh Bắc Giang. Chị S anh B có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2017 và những lời khai của nguyên đơn chị Ngô Thị S, lời khai của bị đơn anh Hoàng Văn B và trong quá trình xét xử nội dung vụ án như sau:

Chị Ngô Thị S kết hôn với anh Hoàng Văn B vào tháng 02 năm 2014. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo đúng phong tục địa phương. Chị S anh B có đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện LN đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới chị S anh B về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh B tại thôn Đ - xã T - huyện LN- tỉnh  Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc. Chị S cho rằng vợ chồng chỉ hòa thuận được một thời gian ngắn đã xảy ra mâu thuẫn, do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên lời qua tiếng lại, anh B thường xuyên chơi bời không quan tâm gia đình thậm chí còn thường xuyên xúc phạm chị. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 3/2017 và sống ly thân với anh B từ đó đến nay không ai còn quan tâm tới ai. Anh B cho rằng giữa anh và chị S không hề có mâu thuẫn gì nghiêm trọng, chỉ là hai vợ chồng có thỉnh thoảng cãi cọ nhau do chưa hiểu nhau nhưng không nghiêm trọng lắm. Từ tháng 3/2017 chị S đi làm công nhân ở Bắc Ninh anh và chị S ly thân từ đó đến nay. Nay chị S xác định tình cảm vợ chồng với anh B không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Anh B xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị S, chị S xin ly hôn anh không đồng ý, nếu chị S kiên quyết ly hôn với anh, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Về con chung: Chị S anh B có một con chung là cháu Hoàng Thị Thảo N - Sinh ngày 24/12/2015. Vợ chồng ly hôn chị S anh B đều có nguyện vọng nuôi con chung và không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S, anh B đều xác nhận không có tàisản chung, không liên quan vay nợ ai. Không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản công nợ.

Tại phiên tòa chị S vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B và giải quyết việc nuôi con chung. Anh B không đồng ý ly hôn với chị S. Nếu chị S kiên quyết ly hôn với anh, anh đề nghị giải quyết theo quy định. Anh B không đồng ý để chị S nuôi con chung, anh có nguyện vọng nuôi con chung và yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh với mức cấp dưỡng là 500 nghìn đồng/tháng.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình tại các điều 70, Điều 71. Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị S. Cho chị Ngô Thị Sđược ly hôn với anh Hoàng Văn B.

Giao cho chị Ngô Thị S nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu HoàngThị Thảo Nguyên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết

Về án phí chị Ngô Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Ngô Thị S khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, con chung với anh Hoàng Văn B. Đây là quan hệ tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị S anh B tự nguyện tìm hiểu và kết kết hôn với nhau vào năm 2014 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Chị S làm đơn xin ly hôn anh B không đồng ý. Hội đồng xét xử nhận thấy chị S, anh B có mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống, do hai bên không quan tâm tới nhau, không hiểu nhau làm cho tình cảm rạn nứt, cuộc sống không có hạnh phúc. Hai bên có liên lạc níu kéo tình cảm nhưng không có kết quả, vợ chồng không ai còn quan tâm tới ai và đã sống ly thân với nhau một thời gian. Xét thấy tình cảm hôn nhân giữa chị S và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Trong quá trình làm việc cũng như tại phiên Tòa ngày hôm nay chị S kiên quyết ly hôn, không muốn quay về đoàn tụ với anh B, anh B không đồng ý ly hôn, anh đề nghị giải quyết theo quy định. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị S đối với anh Hoàng Văn B. Cho chị S ly hôn với anh B.

[3] Về con chung:

Chị S anh B có 01 con chung là: Cháu Hoàng Thị Thảo N - Sinh ngày 24/12/2015. Vợ chồng ly hôn giữa chị S anh B đều có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Thảo N không đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng về nuôi con chung của chị S và anh B là chính đáng, cháu Thảo N là con chung duy nhất của chị S và anh B do vậy chị S anh B đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo giục để cháu Thảo N phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiện hiện nay do cháu Thảo N còn rất nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần chăm sóc của người mẹ, chị S có công việc và mức thu nhập ổn định. Do vậy để đảm bảo sự phát triển của cháu Thảo N cần giao cháu Thảo N chị S nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S anh B không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị S.

1. Cho chị Ngô Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn B.

2. Giao cho chị Ngô Thị S nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Hoàng Thị Thảo N - Sinh ngày 24/12/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn B được quyền đi lại thăm nuôi cháu Thảo N không ai được ngăn cản anh B thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị S đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền dự phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số: AA/2016/0003148 ngày 13/11/2017. Khoản tiền này chuyển thành án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng  cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:08/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/02/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về