Bản án 08/2017/KDTM-ST ngày 02/08/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 08/2017/KDTM-ST NGÀY 02/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Ngày 02 tháng 8 năm 2017, tại: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hội An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2016/TL.ST-KDTM ngày 24 tháng 10 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-KDTM ngày 23.01.2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Công ty Cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P.

Địa chỉ:  Khu công nghiệp  P, xã P, thành phố  H, tỉnh  N.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hồng Q - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1983. Nơi cư trú:  đường  B, phường  K, Quận 1, Thành Phố  M (Văn bản ủy quyền ngày 12.4.2017). “Có mặt”.

Bị đơn:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H.

Địa chỉ: , phường Đ, thành phố  A, tỉnh  N.

Đi diện theo pháp luật: Ông V, sinh năm 1970. Nơi cư trú: C, quận T, thành phố M. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20.10.2016, được trình bày bổ sung ngày 28.10.2016 và tại phiên toà hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng A trình  bày:  Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng P có ký hợp đồng cung cấp thiết bị điện  với Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H có địa chỉ tại: phường Đ, thành phố  A, tỉnh  N. Theo hợp đồng đã ký kết thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H mua thiết bị điện của Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P và 02 bên thỏa thuận giao, nhận hàng tại kho của Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H. Ngày 19 mỗi tháng Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P xuất hóa đơn và Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H chuyển tiền hàng chậm nhất sau 45 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn. Tuy nhiên, hợp đồng đã được ký kết giữa 02 bên hiện nay đã bị thất lạc nên không cung cấp được để Tòa án xem xét cụ thể.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P đã giao đủ số hàng mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H yêu cầu. Tổng giá trị hàng hóa thành tiền là 1.556.459.600 đồng. Về phía Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H đã chuyển cho Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P số tiền cọc mua hàng là 424.488.982 đồng và ngày 03/5/2012 chuyển số tiền là 448.829.644 đồng. Như vậy, số tiền chưa thanh toán là 683.140.974 đồng. Ngày 31 tháng 12 năm 2013 và 06 tháng 5 năm 2015 hai bên đã đối chiếu công nợ và ký xác nhận số nợ là 683.140.974 đồng. Sau nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ nhưng Công ty Trách nhiệm hữu hạn H nên Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc  Công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch H thanh toán số tiền mua hàng còn nợ là 683.140.974 đồng cho Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng P.

Trong  bản trình bày ngày 13/7/2017 Ông V – Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác nhận  hiện nay Công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch H còn nợ Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P số tiền mua thiết bị điện là 683.140.974 đồng.

Sở dĩ Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H chưa trả số tiền trên là công ty gặp khó khăn do bị thiên tai. Nay nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án, bị đơn sẽ tính phương án trả nợ sớm nhất có thể.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Thư ký chấp hành đúng các quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của  nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Riêng đối với bị đơn, ý thức chấp hành pháp luật tố tụng không nghiêm nhiều lần vắng mặt khi Tòa án triệu tập.Về nội dung vụ án: nhận thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều  280, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 50 Luật thương mại 2005 xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại  khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy, trong quá trình mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng P với Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H đã được xác lập thực hiện. Hai bên đã đối chiếu, xác nhận công nợ theo Biên bản đối chiếu công nợ được vào ngày 31 tháng 12 năm 2013 và ngày  06 tháng 5 năm 2015 với số tiền mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H còn nợ Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P là 683.140.974 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 683.140.974 đồng . Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H phải thanh toán số tiền nợ là 683.140.974 cho Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng P.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 683.140.974 đồng và đã được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ, nên Căn cứ vào Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí của Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại với mức thu là 20.000.000 đồng + (683.140.974 đồng - 400.000.000 đồng) x 4%  = 31.325.600 đồng (Ba mươi mốt triệu ba trăm hai lăm nghìn sáu trăm đồng). Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Do vậy, phải hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 15.663.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011662 ngày 24.10.2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều  280, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 Điều 50 Luật Thương mại; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí của Tòa án

Tuyên xử:

1. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H phải trả số tiền mua hàng còn nợ là 683.140.974 đồng (sáu trăm tám ba triệu, một trăm bốn mươi nghìn, chín trăm bảy bốn đồng) cho Công ty cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn du lịch H phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 31.325.600 đồng (ba mươi mốt triệu ba trăm hai lăm nghìn sáu trăm đồng). Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần thiết bị điện và chiếu sáng  P số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 15.663.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011662 ngày 24.10.2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


192
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2017/KDTM-ST ngày 02/08/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Số hiệu:08/2017/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hội An - Quảng Nam
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:02/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về