Bản án 08/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 vềt tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 08/2017/HS-ST NGÀY30/11/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30/11/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2017/TLST-HS ngày 15/11/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2017/QĐXXST-HS ngày 17/11/ 2017 đối với bị cáo Vàng A S, sinh 10/3/1973. Nơi cư trú bản Tr, xã Suối T, huyện Phù Y, tỉnh Sơn L; nghề nghiệp trồng trọt; Quốc tịch Việt Nam; dân tộc Mông; tôn giáo không; đảng phái đoàn thể không. Trình độ học vấn không biết chữ; con ông Vàng A T (đã chết), con bà Sồng Thị B; Vợ là Sồng Thị Ch, có 04 con lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2003; tiền sự không, tiền án năm 2013 bị TAND huyện Phù Yên xử phạt 30 tháng tù về Tội mua bán ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2017 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

- Người phiên dịch cho bị cáo Vàng A S: Ông Cầm Đình C, trú tại khối 12 thị trấn Phù Y, huyện Phù Y, tỉnh Sơn L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11h 25’ ngày 06/10/2017 tổ công tác Công an huyện làm nhiệm vụ tại xã Suối T, huyện Phù Y đã phát hiện và bắt quả tang Vàng A S và Lò Quang H đang có hành vi mua bán ma túy tại nhà ở của S. Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói chất nhựa mầu nâu nghi là thuốc phiện (01 gói của S và 01 gói của H), 200.000đ niêm phong lại và 01 bộ bàn đèn hút thuốc phiện.

Cùng ngày 06/10/2017 cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Y đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh vật chứng 01 gói thu giữ của Vàng A S trọng lượng 0,384gam và 01 gói thu giữ của Lò Quang H trọng lượng 0,289 gam. Tổng trọng lượng 02 gói ký hiệu S và H là 0,673 gam lấy toàn bộ gửi đi giám định.

Tại kết luận giám định số: 948/KLMT ngày 11/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu S, H là chất ma túy; Loại thuốc phiện, trọng lượng của mẫu gửi giám định S là 0,384gam, H là 0,289gam.

Tại cơ quan điều tra Vàng A S, khai nhận vào ngày 05/10/2017 S mua 01 gói thuốc phiện giá 100.000đ với một chị người Mông không quen biết (người Háng Đ Bắc Y) mục đích mua về sử dụng, đến khoảng 11h ngày 06/10/2017 trong lúc đang sử dụng tại nhà thì thấy anh Lò Quang H đến hỏi mua nên S chia ra 02 gói nhỏ rồi bán 01 gói cho H với giá 200.000đ trong lúc mua bán thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang thu cùng vật chứng nói trên.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX:

1 Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm p Khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt bị cáo Vàng A S từ 30 - 36 tháng tù. Tính từ ngày bị bắt tạm giữ 06/10/2017.

2.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; khoản 2 điểm c, đ Điều 76 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bàn đèn hút thuốc phiện và các vỏ giấy nilon gói thuốc phiện.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ do bị cáo phạm tội mà có.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

* Đối với anh Lò Quang H, là người mua ma túy mục đích mua về để sử dụng trọng lượng ma túy ít chưa đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cơ quan điều tra đã quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự xã hội với mức phạt 1.000.000đ là thỏa đáng.

* Đối với người phụ nữ người Mông không biết tên địa chỉ (bị cáo khai người ở Háng Đ Bắc Y) cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh để xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

-Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong BLTTHS và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và được chứng kiến điều tra viên, kiểm sát viên tiến hành niêm phong và mở niêm phong để cân tịnh, lấy mẫu vật gửi đi giám định là khách quan. Kết quả giám định là thuốc phiện, trọng lượng bán cho Lò Quang H 0,289 gam và 01 gói bị thu giữ là 0,384 gam. Tổng cả 02 gói bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,673gam. Ngày 15/11/2017 VKSND huyện Phù Y có bản cáo trạng số: 84/KSĐT-MT truy tố bị cáo về Tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 194 BLHS quy định: "Người nào mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Tại khoản 5 Điều 194 BLHS còn quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Hành vi phạm Tội bán 0,289 gam thuốc phiện của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp đến khách thể thuộc quyền quản lý đặc biệt của nhà nước, bị cáo đã bất chấp pháp luật dẫn đến phạm tội, việc Tòa án đưa bị cáo ra xét xử là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, xét xử đúng người đúng tội, phù hợp với thời gian, địa điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cũng như phù hợp với các lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/8/2013 bị TAND huyện Phù Y xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, quá trình cải tạo đến ngày 08/9/2015 ra trại trở về địa phương sinh sống, nhưng không chấp hành các biện pháp giáo dục tại nơi cư trú, tiếp tục phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.

Về nhân thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn không biết chữ, sống ở vùng đặc biệt khó khăn của huyện Phù Y, khi phạm tội thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được, quy định tại điểm p khoản 1,2 Điều 46 BLHS cần được xem xét áp dụng. Tuy nhiên HĐXX thấy nhân thân của bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, từng có tiền án về tội phạm ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội mới, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục sớm trở thành công dân có ích sau này.

* Về vật chứng vụ án:

- Toàn bộ số ma túy thu được đã gửi giám định hết chỉ còn lại các mảnh giấy nilon gói thuốc phiện sau khi bóc ra cân tịnh; 01 bộ bàn đèn gồm 01 tẩu hút, 01 đèn dầu, 01 kim châm, 01 bật lửa và 01 chén là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 200.000đ do bị cáo bán 01 gói ma túy cho đối tượng Lò Quang H mà có, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

* Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì nên không áp dụng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị HĐXX:

-Áp dụng khoản 1 Điều 194 về Tội mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như điểm p Khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt Vàng A S từ 30 -36 tháng tù

- Về vật chứng áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; khoản 2 điểm c, đ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong là các vỏ giấy ni lon và 01 bộ bàn đèn hút thuốc phiện, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ do bị cáo phạm tội mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xét thấy đề nghị của kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ Tòa cần chấp nhận.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1,2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt bị cáo Vàng A S 30 (ba mươi) tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/10/2017.

2. Hình phạt bổ sung (phạt tiền): không áp dụng đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; khoản 2 điểm c, đ Điều 76 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 tẩu hút, 01 đèn dầu, 01 kim châm, 01 bật lửa, 01 chén và 01 phong bì thư bên trong đựng các vỏ giấy ni lon gói thuốc phiện.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 99 BLTTHS; Khoản 1 các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, bị cáo Vàng A S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo, căn cứ Điều 231 và Điều 234 BLTTHS. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La để xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

168
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 vềt tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:08/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phù Yên - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về