Bản án 08/2017/HSST ngày 05/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 08/2017/HSST NGÀY 05/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 12 năm 2017; Tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2017/HSST, ngày 09 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 15/3/1977; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; con ông Nguyễn Tiến S và bà Hoàng Thị G; Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2000); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/4/2017 đến ngày 27/4/2017 thì bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phạm Phú H (tên gọi khác là Phạm Thị Hằng), sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ xxB, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố về Hnh vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/4/2017, tại khu vực thôn Suối Hón, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Nguyễn Thị H đang có biểu hiện Hnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khám người H, phát hiện tại túi quần bên trái đang mặc của H có 02 gói nhỏ chất bột màu trắng. Qua thử phản ứng phát hiện nhanh ma túy thì 02 gói chất bột màu trắng ở túi quần trái của H là ma túy (Heroine). Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của H 01 điện thoại nhãn hiệu UIMI đã qua sử dụng bên trong có 02 thẻ SIM có số thuê bao 0965.xxx.xxx và 0918.xxx.xxx; 01 xe mô tô có nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 20E1 – xxxxx đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 01xxxx mang tên Nguyễn Thị H; 01 thẻ ATM do Ngân Hàng Á Châu phát hành có số 9704162000xxxxxx; 01 thẻ ATM do Ngân Hàng Liên Việt Post phát hành có số 9704490110000xxxxxx. H khai nhận 02 gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng mà Cơ quan điều tra thu giữ là chất ma túy (Heroine) của H. Số ma túy trên H có được là do vào khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H một mình đi xe máy đến khu vực cầu Gia Bảy, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mua với 01 người đàn ông (H không biết rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này) 02 gói nhỏ ma túy với giá 5.000.000 VNĐ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu số ma túy trên vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về đến khu vực thôn Suối Hón, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn thì nghỉ uống nước và sau đó bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong ngày 21/4/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn xác định:

Tổng trọng lượng chất bột màu trắng có trong 02 gói nhỏ thu giữ của H là: 5,769 gam được niêm phong trong phong bì có kí hiệu B2 gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số: 57KTHS - MT ngày 04/5/2017 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “mẫu chất bột màu trắng có trong phong bì B2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số 50/KSĐT-MT ngày 07/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 21/4/2017 tại thôn Suối Hón, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Nguyễn Thị H đã có Hnh vi tàng trữ trái phép 5,769 gam ma túy (Heroin). Hành vi này của Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Điều luật có nội dung:“ 1. Người nào tàng trữ…trái phép…chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

……

h) Hêrôin hoặc Cocain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam; ”.

Tuy nhiên, căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Điều luật.. quy định một hình phạt nhẹ hơn...thì được áp dụng đối với Hnh vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi Hành”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng điều luật có lợi cho bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần áp dụng tiết g, điểm 2, khoản 66, Điều 1 luật số 12/2017/QH14 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 đối với hành vi của Nguyễn Thị H.

Tại tiết g điểm 2 khoản 66 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 quy định:

 “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

……

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo có bố là Nguyễn Tiến S và mẹ là Hoàng Thị G đều được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46/BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội. Sau khi xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

*Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản. Do vậy việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền không có tính khả thi. Nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

Trong vụ án này, theo lời khai của H, để có ma túy cho bản thân sử dụng H đã mua với một người không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực cầu Gia Bảy, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ xử lý.

* Về vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy ma túy (Hêrôin) là tang vật vụ án được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T57 bên trong có chứa 5,7gam Hêrôin và giấy gói cũ của Nguyễn Thị H.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu B1 bên trong có vỏ phong bì và giấy gói cũ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu UIMI, cũ đã qua sử dụng. Điện thoại trên là do H mượn của Phạm Phú H, H sử dụng để liên lạc với người thân, gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Viện kiểm sát đã trả chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu là chị Phạm Phú H, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, H không yêu cầu H bồi thường, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

- 02 thẻ sim có số thuê bao 0965.xxx.xxx và 0918.xxx.xxx; 01 thẻ ATM do Ngân hàng Á Châu phát hành có số 9704162000xxxxxx; 01 thẻ ATM do Ngân hàng Liên Việt Post phát hành có số 9704490110000xxxxxx của bị cáo Nguyễn Thị H, không liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị, tại phiên tòa, bị cáo H không đề nghị xin lại 02 chiếc thẻ sim và 02 chiếc thẻ ATM này. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 xe mô tô có nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 20E1 – xxxxx đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 01xxxx mang tên Nguyễn Thị H. Xét thấy, chiếc xe trên là tài sản chung, là phương tiện đi lại của cả gia đình, tiền mua xe là của ông Nguyễn Tiến S (bố đẻ của bị cáo H). Do vậy cần trả lại cho gia đình bị cáo.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

*Áp dụng: điểm h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009; tiết g điểm 2 khoản 66 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 05(năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/4/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự

- Tịch thu tiêu hủy ma túy (Hêrôin) là tang vật vụ án được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T57 bên trong có chứa 5,7 gam Hêrôin và giấy gói cũ của Nguyễn Thị H.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu B1 bên trong có vỏ phong bì và giấy gói cũ; 02 thẻ sim có số thuê bao 0965.xxx.xxxvà 0918.xxx.xxx; 01 thẻ ATM do Ngân hàng Á Châu phát hành có số 9704162000xxxxxx; 01 thẻ ATM do Ngân hàng Liên Việt Post phát hành có số 9704490110000xxxxxx;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H 01 xe mô tô có nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 20E1 – xxxxx đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 01xxxx mang tên Nguyễn Thị H.

 (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2017 giữa Cơ quan Công an huyện Chợ Mới và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách NH nước.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại  các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về