Bản án 07/2021/HS-ST ngày 15/04/2021 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 07/2021/HS-ST NGÀY 15/04/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 08/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Hữu Ph; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 20/8/1991, tại tỉnh Bình Định.

Nơi cư trú: Thôn 12, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Bùi Văn Chung, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Tám, sinh năm:

1968 đều làm nông và cư trú tại: xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ : Mai Thị Kim Cúc, sinh năm: 1999, đang làm nông và cư trú tại: Thôn 12, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có 01người con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 đến ngày 27/10/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn S; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 10/10/1975, tại tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Thôn 11, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn Dựt, sinh năm: 1955 và bà Trần Thị Lợi , sinh năm:

1956 đều làm nông và cư trú tại: xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Huệ, sinh năm: 1979. Hiện đang làm nông và cư trú tại thôn 12, xã Đắk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 đến ngày 27/10/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 04/02/1973, tại tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Thôn 11, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn Xuân và bà Nguyễn Thị Khánh (đều đã chết) , Bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ : Đỗ Thị Thúy, sinh năm: 1985. Hiện đang làm nông và cư trú tại thôn 11, xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum Bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 đến ngày 03/11/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Trần Ngọc Kh; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 10/3/1973, tại tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Thôn 06, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Văn Nhân, sinh năm: 1937 và bà Cao Thị Láng , sinh năm: 1937 cư trú tại: xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình.

Bị cáo có vợ : Bùi Thị Noãn, sinh năm: 1977. Hiện đang làm nông và cư trú tại xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 đến ngày 13/11/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn L; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 14/01/1989, tại tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Thôn 07, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm: 1968 và bà Trần Thị Phương , sinh năm: 1969 đều làm nông và cư trú tại: Thôn 07, xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ : Nguyễn Thị Bắc, sinh năm: 1998. Hiện đang làm nông và cư trú tại Thôn 07, xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 đến ngày 13/11/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Nguyễn Quang Th; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 21/02/1988, tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn 04, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Quang Vinh, sinh năm: 1964 làm nông và cư trú tại: Thôn 04, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum và mẹ là bà Võ THị Thường, sinh năm: 1962 ở đsâu và làm gì không rõ.

Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Thơm, sinh năm: 1982. Hiện là giáo viên và cư trú tại Thôn 04, xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018 và 02 con riêng của chị Thơm nhưng sinh sống cùng với bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2020 đến ngày 13/11/2020 thì được thay thế áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Thơm, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Thôn 04, xã ĐắkTờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh Khắc Công, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Thôn 04, xã ĐắkTờRe, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Viết Hùng, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Thôn 04, xã ĐắkTờRe, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 02/10/2020, các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S và Bùi Hữu Ph cùng đến quán của gia đình bị cáo Nguyễn Quang Th chơi, khi đến quán nhà Th thì Cg mang theo số tiền 2.400.000 đồng, S mang theo số tiền 3.185.000 đồng và Ph mang theo số tiền 1.821.000 đồng. Sau đó, ba người trải chiếu tại phòng khách của nhà Th đánh bạc với hình thức “liêng” để đặt cược tiền, các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 3 lá bài, số bài dư còn lại thì để sang một bên không dùng đến. Trước khi chia bài, mỗi người chơi phải đặt cược số tiền bằng nhau, khi người chơi nhận đủ 3 lá bài của mình thì sẽ lựa chọn 1 trong 3 hình thức “tố”, tức là người chơi bỏ thêm số tiền cược cao hơn số tiền đã đặt cược trước đó; hoặc “theo”, tức là người chơi bỏ thêm số tiền cược bằng với số tiền đã đặt cược trước đó; hoặc “bỏ bài”, tức là người chơi không bỏ thêm tiền đặt cược và sẽ bị mất đi số tiền đã đặt cược trước đó. Sau khi tất cả những người chơi đã lựa chọn hình thức chơi cho mình thì cùng nhau mở 03 lá bài của mình ra xem, theo quy định xét theo thứ tự từ cao đến thấp là Sáp (3 lá bài cùng số), Liêng (3 lá bài theo thứ tự liên tục), Ảnh (3 lá bài có hình người J, Q, K), Điểm (tính theo số của lá bài, riêng lá bài A tính là 1 điểm, còn những lá bài 10, J, Q, K tính là 0 điểm, rồi sau đó cộng điểm của 3 lá bài, nếu tổng điểm 3 lá bài dưới 10 điểm sẽ là điểm cuối cùng của người chơi, nếu tổng điểm 3 lá bài trên 10 điểm thì phải chia cho 10 lấy phần dư sẽ là điểm cuối cùng của người chơi, rồi xét theo nguyên tắc điểm lớn ăn điểm nhỏ), ai là người chơi có bài cao nhất sẽ thắng toàn bộ số tiền đặt cược.

Trong khi ba bị cáo C, S, Ph đang chơi đánh bạc được một lúc thì bị cáo Nguyễn Văn L đến cùng tham gia đánh bạc, khi đến quán nhà Th, bị cáo L mang theo số tiền 2.340.000 đồng. Lúc ban đầu đặt cược mỗi người 20.000 đồng sau đó tăng lên 30.000 đồng; đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Trần Ngọc Kh mang theo số tiền 750.000 đồng cũng đến tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo nêu trên và tăng tiền đặt cược mỗi người lên 50.000 đồng. Trong khoảng thời gian các bị cáo đánh bạc tại nhà Th, còn có ông Trần Văn S, ông Nguyễn Viết H và ông Đinh Khắc C (cả ba người cùng trú tại thôn 04, xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy) ngồi ngoài xem và không tham gia đánh bạc. Các bị cáo đánh bạc đến 23 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Kon Rẫy bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc được thua bằng tiền, với hình thức đánh bài liêng và thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc Nguyễn Văn L số tiền 3.440.000 đồng, Trần Ngọc Kh số tiền 820.000 đồng, Nguyễn Văn C số tiền 1.900.000 đồng, Nguyễn Văn S số tiền 2.735.000 đồng, Bùi Hữu Ph số tiền 1.271.000 đồng, cùng với 01 bộ bài tây (tú lơ khơ) 52 lá bài.

Kết quả điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như sau: Số tiền dùng vào việc đánh bạc với tổng số tiền là 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Bao gồm: 200.000 đồng (tiền thu trên chiếu bạc) + 1.600.000 đồng (500.000 đồng sẽ sử dụng để đánh bạc + 1.100.000 đồng tiền thắng bạc của Nguyễn Văn L) + 900.000 đồng (1.350.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc – 450.000 đồng tiền thua bạc của Nguyễn Văn C) + 1.300.000 đồng (1.700.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc - 400.000 đồng tiền thua bạc của Nguyễn Văn S) + 1.250.000 đồng (1.750.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc – 500.000 đồng tiền thua bạc của Bùi Hữu Ph) + 820.000 đồng (750.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc + 70.000 đồng thắng bạc của Trần Ngọc Kh) + 130.000 đồng (các bị cáo sử dụng từ tiền đánh bạc để trả tiền mua nước uống, bộ bài Tú Lơ khơ và thuốc lá cho bị cáo Nguyễn Quang Th) = 6.200.000 đồng. Ngoài ra, kết quả điều tra còn xác định bị can Nguyễn Quang Th đã sử dụng địa điểm là phòng khách nhà ở của mình để cho các bị cáo khác sử dụng đánh bạc và thu lợi bất chính số tiền 16.000 đồng (trong tổng số tiền 130.000 đồng trên từ việc bán nước uống,bộ bài và thuốc lá cao hơn giá thị trường); đồng thời trong lúc các bị cáo khác đánh bạc thì bị cáo Th chủ động ra đóng cửa nhà mình để tránh sự phát hiện và khi Công an huyện Kon Rẫy đến bắt quả tang, bị cáo Th đứng chắn ở cửa để cho các bị cáo khác tẩu thoát.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT-Công an huyện Kon Rẫy đã tạm giữ những đồ vật, tài liệu, vật chứng gồm:

- Tiền Việt Nam (VNĐ) 10.496.000 đồng (Mười triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc 6.200.000 đồng và tền thu giữ của các bị cáo 4.296.000đ (Bao gồm 200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc; 3.440.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Văn L; 820.000 đồng thu giữ trên người Trần Ngọc Kh; 1.900.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Văn C; 2.735.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Văn S; 1.271.000 đồng thu giữ trên người Bùi Hữu Ph và 130.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Quang Th).

- 01 Bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng; 01 Chiếc chiếu hình chữ nhất kích thước (2x1,8)m, lọai chiếu cói, đã qua sử dụng; 01 Chăn hình chữ nhật kích thước (1,1x1)m, màu xám, trên mặt chăn in chữ “HAPPBBY” chăn đã qua sử dụng;

Những vật chứng, đồ vật nêu trên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Đối với các vật chứng, đồ vật sau đây Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô Wave RSX màu đen trắng, biển số: 82B1-584.75, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số:

82K1-024.59 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số: 82B1- 336.91 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển số: 82K1-012.75 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 6s có ốp lưng màu đen, điện thoại màu bạc, vỏ sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động IPhone 6s màu vàng đồng, mặt sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím màu đen, số Imei 1: 357693108366809, Imei 2: 3576931088668088, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo A52 màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo màu tím đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen (loại đen trắng); 01 điện thoại di động Samsung M20 màu đen; 01 ví da màu đen.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 05 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Bùi Hữu Ph và Nguyễn Quang Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th về tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo:

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C, Bùi Hữu Ph mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 (mười sáu) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Th mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

+ Áp dụng điểm khoản 1, Điều 321; điểm i,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc Kh và Nguyễn Văn S mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Miễn hình phạt bổ sung bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tịch thu và tiêu hủy đối với 01 Bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng; 01 Chiếc chiếu hình chữ nhất kích thước (2x1,8)m, lọai chiếu cói, đã qua sử dụng; 01 Chăn hình chữ nhật kích thước (1,1x1)m, màu xám, trên mặt chăn in chữ “HAPPBBY” chăn đã qua sử dụng. Đây là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng.

- Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 BLHS; điểm b, khoản 2, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Bao gồm: 200.000 đồng (tiền thu trên chiếu bạc) + 1.600.000 đồng (trong số tiền 3.440.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L) + 900.000 đồng (trong số tiền 1.900.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C) + 1.300.000 đồng (trong số tiền 2.735.000 đồng đã thu giữ của bị cáo của Nguyễn Văn S) + 1.250.000 đồng (trong số tiền 1.271.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Bùi Hữu Ph) + 820.000 đồng (trong số tiền 820.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Trần Ngọc Kh) + 130.000 đồng (từ số tiền đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang Th). Đây là số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

- Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 1.840.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 1.435.000 đồng, trải lại cho bị cáo Bùi Hữu Ph số tiền 21.000 đồng. Đây là tiền mà các bị cáo khung dùng để đánh bạc.

Đối với 01 Giấy phép lái xe số 510071004635 (bản phô tô); 01 Chứng minh nhân dân số 23355661 mang tên Nguyễn Văn L (bản phô tô) là những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được nên cần lưu giữ tại hồ sơ.

Đối với các vật chứng, đồ vật sau đây Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô Wave RSX màu đen trắng, biển số: 82B1-584.75, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số:

82K1-024.59 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số: 82B1- 336.91 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển số: 82K1-012.75 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 6s có ốp lưng màu đen, điện thoại màu bạc, vỏ sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động IPhone 6s màu vàng đồng, mặt sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím màu đen, số Imei 1: 357693108366809, Imei 2: 3576931088668088, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo A52 màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo màu tím đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen (loại đen trắng); 01 điện thoại di động Samsung M20 màu đen; 01 ví da màu đen nên không đề cấp xử lý.

Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ vào Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thơm không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, cùng với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Kon Rẫy và phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sá nhân dân huyện Kon Rẫy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th khai và thừa nhận hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý xác định:

Hành vi của các bị cáoBùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th đã phạm vào tội: “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội đối với các bị cáo là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận.

[3] Hành vi đánh bạc của các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th là một trong những tệ nạn xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, bị pháp luật nghiêm cấm. Ngoài ra từ việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Xét tại nơi quán của nhà bị cáo Nguyễn Quang Th có đông người qua lại mà bị cáo Th đã cho các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L cùng thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc, ăn thua bằng tiền là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, các bị cáo bất chấp hậu quả xảy ra đã ngang nhiên ra hình th đánh bạc bằng hình thức “liêng” để đặt cược tiền, các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 3 lá bài, số bài dư còn lại thì để sang một bên không dùng đến. Trước khi chia bài, mỗi người chơi phải đặt cược số tiền bằng nhau, khi người chơi nhận đủ 3 lá bài của mình thì sẽ lựa chọn 1 trong 3 hình thức “tố”, tức là người chơi bỏ thêm số tiền cược cao hơn số tiền đã đặt cược trước đó; hoặc “theo”, tức là người chơi bỏ thêm số tiền cược bằng với số tiền đã đặt cược trước đó; hoặc “bỏ bài”, tức là người chơi không bỏ thêm tiền đặt cược và sẽ bị mất đi số tiền đã đặt cược trước đó. Hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến cuộc sống yên ổn của nhiều gia đình trong cộng đồng xã hội, thậm chí còn gây đổ vỡ hạnh phúc, gia đình ly tán vì tệ nạn cờ bạc. Hành vi đánh bạc là trái phép mà nhà nước nghiêm cấm theo Hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010/NQ- HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tổng số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 6.200.000đồng.

Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, các bị cáo thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức “liêng”, thắng thua băng tiền tại nơi quán xá có đông người qua lại là thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo trong vụ án để nhằm răn đe, giáo dục và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S và Bùi Hữu Ph đã có hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Bao gồm: 200.000 đồng (tiền thu trên chiếu bạc) + 1.600.000 đồng (500.000 đồng sẽ sử dụng để đánh bạc + 1.100.000 đồng tiền thắng bạc của Nguyễn Văn L) + 900.000 đồng (1.350.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc – 450.000 đồng tiền thua bạc của Nguyễn Văn C) + 1.300.000 đồng (1.700.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc - 400.000 đồng tiền thua bạc của Nguyễn Văn S) + 1.250.000 đồng (1.750.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc – 500.000 đồng tiền thua bạc của Bùi Hữu Ph) + 820.000 đồng (750.000 đồng tiền sẽ sử dụng đánh bạc + 70.000 đồng thắng bạc của Trần Ngọc Kh) + 130.000 đồng (các bị cáo sử dụng từ tiền đánh bạc để trả tiền mua nước uống, bộ bài Tú Lơ khơ và thuốc lá cho bị cáo Nguyễn Quang Th) = 6.200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Quang Th đã có hành vi cho các bị cáo trên sử dụng nhà mình để đánh bạc nhằm bán được nước uống, bộ bài tây, thuốc lá với giá cao hơn giá thị trường từ 1.000 đồng đến 2.000 đồng và đã hưởng lợi bất chính số tiền 16.000 đồng. Bên cạnh đó, quá trình các bị cáo khác đánh bạc thì bị cáo Thức chủ động ra đóng cửa nhà mình để tránh người ngoài phát hiện và khi Công an huyện Kon Rẫy đến bắt quả tang thì bị cáo Th đứng chắn ở cửa để cho các bị cáo khác tẩu thoát. Tuy hành vi của bị cáo Thức chưa đủ yếu tố cấu thành tội:

“Gá bạc” theo quy định tại Điều 322 BLHS nhưng việc bị cáo Thức cho các bị cáo khác sử dụng nhà mình để đánh bạc với tổng số tiền 6.200.000 đồng thì bị cáo vẫn là đồng phạm với các bị cáo khác về tội: “Đánh bạc”.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người nên tính chất đồng phạm giữa các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bản thân và liên đới chịu trách nhiệm do đồng phạm gây nên. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S và Bùi Hữu Ph là những người khởi xướng ra việc đánh bạc trước. Sau đó, bị cáo Nguyễn Văn L và bị cáo Trần Ngọc Kh đến tham gia đánh bạc cùng. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Do vậy, hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Trong đó, các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S và Bùi Hữu Ph phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo Nguyễn Văn L và Trần Ngọc Kh.

Đối với bị cáo Nguyễn Quang Th là người đã cho các bị cáo khác sử dụng nhà mình để đánh bạc nhằm bán được nước uống, bộ bài tây, thuốc lá với giá cao hơn giá thị trường từ 1.000 đồng đến 2.000 đồng và đã hưởng lợi bất chính số tiền 16.000 đồng. Bên cạnh đó, quá trình các bị cáo khác đánh bạc thì bị cáo Th chủ động ra đóng cửa nhà mình để tránh người ngoài phát hiện và khi Công an huyện Kon Rẫy đến bắt quả tang thì bị cáo Th đứng chắn ở cửa để cho các bị cáo khác tẩu thoát. Do vậy, bị cáo Nguyễn Quang Th là đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S và Bùi Hữu Ph về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS, với vai trò người giúp sức.

[4] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng. Pháp luật nghiêm cấm đánh bạc với mọi hình thức. Các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi mình thực hiện, hiểu biết pháp luật nhưng chỉ vì mục đích đam mê cờ bạc. Hơn nữa, hiện nay tình hình tội phạm trên địa bàn huyện đang có chiều hướng gia tăng, nhất là tình trạng đánh bạc và tổ chức đánh bạc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng khu dân cư. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra. Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S, Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn L, Trần Ngọc Kh, và Nguyễn Quang Th đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo cơ hội cho các bị cáo tự cải tạo, sửa chữa sai lầm của mình.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cho từng bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn S và Trần Ngọc Kh còn có cha, mẹ là người có công với cách mạng .

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn S và Trần Ngọc Kh còn có cha, mẹ là người có công với cách mạng nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS. Do đó, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Các bị cáo sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thơm không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên HĐXX không xem xét, [5] Về vật chứng vụ án: Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2021 của Công an huyện Kon Rẫy với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Rẫy) gồm:

- 01 Bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng; 01 Chiếc chiếu hình chữ nhất kích thước (2x1,8)m, lọai chiếu cói, đã qua sử dụng; 01 Chăn hình chữ nhật kích thước (1,1x1)m, màu xám, trên mặt chăn in chữ “HAPPBBY” chăn đã qua sử dụng. Đây là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Bao gồm:

200.000 đồng (tiền thu trên chiếu bạc) + 1.600.000 đồng (trong số tiền 3.440.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L) + 900.000 đồng (trong số tiền 1.900.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C) + 1.300.000 đồng (trong số tiền 2.735.000 đồng đã thu giữ của bị cáo của Nguyễn Văn S) + 1.250.000 đồng (trong số tiền 1.271.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Bùi Hữu Ph) + 820.000 đồng (trong số tiền 820.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Trần Ngọc Kh) + 130.000 đồng (từ số tiền đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang Th). Đây là số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 1.840.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 1.435.000 đồng, trải lại cho bị cáo Bùi Hữu Ph số tiền 21.000 đồng. Đây là tiền mà các bị cáo không dùng để đánh bạc.

Đối với 01 Giấy phép lái xe số 510071004635 (bản phô tô); 01 Chứng minh nhân dân số 23355661 mang tên Nguyễn Văn L (bản phô tô) là những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được nên cần lưu giữ tại hồ sơ.

Đối với các vật chứng, đồ vật sau đây Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô Wave RSX màu đen trắng, biển số: 82B1-584.75, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số:

82K1-024.59 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave RSX màu đen đỏ, biển số: 82B1- 336.91 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển số: 82K1-012.75 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 6s có ốp lưng màu đen, điện thoại màu bạc, vỏ sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động IPhone 6s màu vàng đồng, mặt sau có chữ Iphone, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím màu đen, số Imei 1: 357693108366809, Imei 2: 3576931088668088, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo A52 màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo màu tím đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen (loại đen trắng); 01 điện thoại di động Samsung M20 màu đen; 01 ví da màu đen nên HĐXX không đề cập đến.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo [7] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th phạm tội “Đánh bạc.

sự;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình - Xử phạt bị cáo Bùi Hữu Ph 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Th 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn văn L 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Kh 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính ngày tuyên án (15/4/2021).

Giao các bị cáo cho UBND xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b khoản 2, Điều 106; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.200.000đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) lá, đã qua sử dụng;

+ 01 Chiếc chiếu hình chữ nhất kích thước (2x1,8)m, lọai chiếu cói, đã qua sử dụng;

+ 01 Chăn hình chữ nhật kích thước (1,1x1)m, màu xám, trên mặt chăn in chữ “HAPPBBY” chăn đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 1.840.000 đồng;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 1.000.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 1.435.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Hữu Ph số tiền 21.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2021 của Công an huyện Kon Rẫy với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Rẫy).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo (Bùi Hữu Ph, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn C, Trần Ngọc Kh, Nguyễn Văn L và Nguyễn Quang Th) mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/4/2021) các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được qui định theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6 điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


41
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2021/HS-ST ngày 15/04/2021 về tội đánh bạc

Số hiệu:07/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kon Rẫy - Kon Tum
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về