Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 06/03/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 07/2020/HNGĐ-ST NGÀY 06/03/2020 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 06 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 500/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Anh Tăng Thành S, sinh năm 1980 Địa chỉ: ấp 4, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

2/. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Th, sinh năm 1981 Địa chỉ: ấp 4, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(anh S và chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Tăng Thành S và bị đơn chị Huỳnh Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th thống nhất xác định anh chị đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục tại địa phương vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo anh S và chị Th cùng thống nhất xác định: do trong thời gian chung sống giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, nên từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, từ khi vợ chồng sống xa nhau không ai quan tâm ai, hay tìm biện pháp hàn gắn mâu thuẫn, anh S yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Th, chị Th cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh S.

Về nuôi con chung: Anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th thống nhất xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Tăng Vũ L, sinh năm 2001, hiện cháu L đang sống chung với chị Th, khi ly hôn anh S và chị Th xác định do con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên anh chị thống nhất không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th thống nhất xác định không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Giữa anh S và chị Th kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, nay anh chị thống nhất ly hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là có căn cứ.

Về nuôi con chung: Do con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Do anh S và chị Th không đặt ra yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí thì anh S phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: anh S có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với chị Th. Chị Th có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Anh S và chị Th có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh S và chị Th.

[2] Về nội dung vụ án: anh S và chị Th cưới nhau vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của anh S đối với chị Th thì Hội đồng đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống anh S và chị Th lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân gần 01 năm. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh S và chị Th muốn hàn gắn lại với nhau, anh S và chị Th không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Quá trình Tòa án làm việc thì cả anh S và chị Th đều có nguyện vọng được ly hôn với nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị đã rất trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị là không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh S và chị Th để anh chị có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, ổn định hơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th thống nhất xác định do người con chung tên Tăng Vũ L, sinh năm 2001 đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên khi ly hôn anh S và chị Th không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Do Anh S và chị Th không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

 QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 51 và 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th.

2/. Về nuôi con chung: Do con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th không đặt ra nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4/. Về án phí: Anh Tăng Thành S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004052 ngày 02 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho anh Tăng Thành S và chị Huỳnh Thị Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


48
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 06/03/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

Số hiệu:07/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về