Bản án 07/2019/HS-ST ngày 25/12/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 07/2019/HS-ST NGÀY 25/12/2019 VỀ TỘI LM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 02/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HS ngày 11/12/2019 đối với bị cáo:

Trần Quốc B, sinh năm 1993; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Cầu T, xã An T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang K sinh năm 1973 và bà Thân Thị T sinh năm 1973; Có vợ là Tăng Thị Vân G sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2014;

Tiền án: Tại Bản án số 42/2017/HSST ngày 10/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 16/8/2018 B đã chấp hành xong hình phạt trở về địa phương.

Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2019 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1990; HKTT: Thôn Gốc B, xã Sơn A, huyện V, tỉnh Yên Bái; Hiện đang cư trú tại: Khu phố Tam L, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Văn P, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Yên T, xã Tam H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Quốc B đến làm tại xưởng cơ khí Trọng N của anh Đinh Văn N ở khu phố Tam Lư, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh vào khoảng cuối tháng 3 năm 2019. Bị cáo B đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves màu trắng vàng đen, BKS 21K1-07787 của anh N để đi chơi đến khoảng 23 giờ về xưởng do gọi cửa anh N không mở nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe. Bị cáo B đã đi xe này về Bắc Giang và bán lấy tiền ăn tiêu.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn đã trưng cầu định giá và tại bản Kết luận định giá số 91 ngày 26/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Từ Sơn đã kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves màu trắng vàng đen, sản xuất năm 2013, BKS 21K1-07787 có giá trị tại thời điểm tháng 4/2019 là 13.000.000 đồng”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn để xét xử bị cáo Trần Quốc B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Lợi dụng sự tin tưởng của anh Đinh Văn N là chủ xưởng nơi bị cáo làm việc, bị cáo đã mượn xe mô tô của anh N để đi chơi, sau đó đã mang bán chiếc xe cho anh Trịnh Văn P với giá 1.500.000 đồng rồi ăn tiêu hết. Bị cáo đã không đến xưởng nhà anh N làm việc nữa mà bỏ trốn. Biết hành vi của mình bị phát giác nên ngày 25/9/2019 bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Chiếc bị mất không thu hổi được, bị cáo chưa bồi thường cho anh N.

Bị hại là anh Đinh Văn N trình bày do tin tưởng bị cáo là công nhân làm tại xưởng của mình nên anh đã cho B mượn xe để đi chơi nhưng B đã không trả lại xe cho anh mà mang bán lấy tiền ăn tiêu, bỏ trốn và không quay lại làm việc. Vì vậy anh đã yêu cầu Công an giải quyết và B đã ra đầu thú. Anh yêu cầu bị cáo B phải bồi thường cho anh giá trị chiếc xe theo kết luận của hội đồng định giá là 13.000.000 đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn P trình bày khi mua xe của bị cáo B anh không biết đó là xe do B ăn cắp. Anh mua xe của B với giá 1.500.000 đồng. Chiếc xe này hiện anh đã bán cho người không quen biết nên không thể thu hồi được. Anh không có yêu cầu gì.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Quốc B từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/9/2019.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đinh Văn N 13.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản người phạm tội ra đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Lợi dụng sự tin tưởng của anh Đinh Văn N là chủ xưởng nơi bị cáo làm việc cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves màu trắng vàng đen, sản xuất năm 2013, BKS 21K1-07787 có giá trị 13.000.000 đồng đi chơi, sau đó không trả lại mà mang xe đi bán lấy tiền ăn tiêu, không quay lại làm việc và bỏ trốn. Anh N đã trình báo Công an nên bị cáo đã ra đầu thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật B vệ mà còn gây lo lắng cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự và áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo đã bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án mà lại phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi biết hành vi của mình bị phát giác, bị cáo đã đến Công an thị xã Từ Sơn đầu thú. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu đòi bồi thường trị giá chiếc xe của anh Đinh Văn N là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh N 13.000.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh P không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc B 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/9/2019. án.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm B thi hành Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Quốc B phải bồi thường cho anh Đinh Văn N 13.000.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HS-ST ngày 25/12/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:07/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Từ Sơn - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/12/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về