Bản án 07/2019/HSST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 07/2019/HSST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnhBắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số12/2019/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:

Hoàng Văn L, sinh năm 1997; HKTT: Thôn Trường L, xã Xuân H, huyện Nghi X, tỉnh Hà T; Hiện Thê trọ tại: Thôn Giang L, xã Phương L, huyện Quế V, tỉnh Bắc N; Nghề Ng: Lao động tự do; Học vấn 11/12; Con ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1976 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; Vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2018 đến nay tại Trại giam công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: (đều vắng mặt)

1. Chị Hà Thị T, sinh năm 1997

HKTT: Thôn Bo Hạ, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa

2. Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1999

HKTT: Xóm 7, xã Làng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

3. Chị Bùi Thị D, sinh năm 1987

HKTT: Thôn Vin Hạ, xã Hương Nhợng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

4. Chị Đinh Thị O, sinh năm 1971

HKTT: Thôn Toán Phúc, xã Thệu Toán, huyện Thệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

5. Chị Triệu Thị Th, sinh năm 1997

HKTT: Thôn Khung Xa, xã Dương Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn

6. Chị Trịnh Thị Nh, sinh năm 1997

HKTT: Thôn Bản Vươn, xã Cai Bộ, huyện Quảng Yên, tỉnh Cao Bằng

7. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1992

HKTT: Thôn Đoàn Tùng, xã Đông Phú, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

8. Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1974

HKTT: Thôn Khuổi Kheo, xã Dương Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1994 (vắng mặt)

HKTT: Thôn Bắc Dũng, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt Nh sau: Khoảng 15h ngày 30/10/2018, L mang theo 01 túi xách màu đen bên trong có 01 tô vít và 01 chiếc kìm từ phòng trọ đi lang thang quanh khu vực các phòng trọ ở thôn Giang Liễu, mục đích để tìm xem có phòng trọ nào sơ hở để trộm cắp. L đến dãy nhà trọ của anh Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1980 quan sát không có ai, L đi lên tầng 3 đến cửa phòng trọ của chị Hà Thị Tiệp dùng tô vít vặn vít ốc ở tai khóa rồi mở cửa vào phòng lục tìm thấy 01 thẻ ATM của ngân hàng Viettinbank và 01 chứng minh nhân dân của chị Tiệp. L lấy thẻ ATM và dùng điện thoại chụp số chứng minh nhân dân của chị Tiệp rồi để vào chỗ cũ.

Sau đó tiếp tục đi xuống tầng 2 của khu trọ, đến cửa phòng trọ của chị Đoàn Thị H dùng tô vít mở ổ khóa cửa và đi vào phòng, lục tìm thấy 01 ví màu đen bên trong có 01 thẻ ATM của ngân hàng Viettinbank, 01 chứng minh nhân dân của chị H và 150.000đồng. L dùng điện thoại chụp số chứng minh nhân dân rồi để vào chỗ cũ, lấy tiền và tiếp tục tìm thấy 01 điện thoại Nokia 222 màu đen, cất vào túi rồi đi ra khỏi phòng.

Khoảng 15h30’ cùng ngày, L đến cây ATM cạnh công ty Bujeon Việt Nam tại khu công Ng Quế Võ, dùng thẻ ATM của chị Tiệp để rút tiền, L nhập mật khẩu là số chứng minh nhân dân và ngày sinh của chị Tiệp để rút Nhng không được. L tiếp tục dùng thẻ của chị H và nhập mật khẩu là ngày sinh của chị H rút 04 lần được7.350.000đồng. Trên đường về nhà trọ L vứt thẻ ATM của chị T xuống đường.

Cùng ngày 30/10/2018, chị H có đơn trình báo về việc bị mất tài sản.

Khoảng 21h cùng ngày, L đến Công an huyện Quế Võ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 94/KL-ĐGTS ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “Chiếc điện thoại Nokia 222 đã qua sử dụng, đã hỏng có trị giá 50.000đồng”

Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn L khai nhận trong thời gian từ ngày 24/10/2018 đến ngày 30/10/2018, L đã thực hiện 06 hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Nh sau:

Lần 1: Khoảng 12h ngày 24/10/2018, L mang theo 01 túi xách màu đen bên trong có 01 tô vít và 01 chiếc kìm. Khi đi đến khu vực đình làng thôn Giang Liễu xã Phương Liễu, L quan sát dãy nhà trọ của anh Nguyễn Tài C, sinh năm 1975 cổng không khóa. L đi lên tầng 3 đến cửa phòng trọ của chị Bùi Thị D dùng tô vít vặn các vít ốc bên cạnh tai ổ khóa rồi mở cửa đi vào phòng lục tìn thấy 01 túi đựng quần áo để giáp tường, mở ra thấy có 01 ví nhỏ màu trắng bên trong có 600.000đồng và 01 thẻ ATM của ngân hàng Martimebank. L lấy tiền và chiếc thẻ đút vào túi quần rồi về phòng trọ, trên đường đi L vứt chiếc thẻ ATM xuống đường.

Lần 2: Cùng ngày 24/10/2018, sau khi trộm cắp của chị D, L vào dãy nhà trọ của anh Nguyễn Tài Biên, sinh năm 1971, đến cửa phòng trọ của chị Đinh Thị O ở tầng 1. L dùng tay bê cánh cửa gỗ bên trái ra rồi vào phòng, thấy có 01 con lợn đất để ở giá treo gần cánh cửa, L lấy xuống đập ra Nhng không có tiền. L tiếp tục lục tìm và lấy được 1.000.000đồng đựng trong 01 túi xách màu sữa.

Lần 3: Cùng ngày 24/10/2018, L vào dãy nhà trọ của anh Nguyễn Tài L, sinh năm 1966. Đến cửa phòng trọ của chị Triệu Thị Th dùng tô vít vặn tháo các ốc ở cạnh ổ khóa vào phòng, quan sát thấy có 01 ba lô để trong phòng, L mở ra thấy có 01 con lợn bằng đất thì dùng kìm đập vỡ, lấy được 3.500.000đồng.

Lần 4: Ngày 26/10/2018, L vào dãy nhà trọ của chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1975, đi lên tầng 2 đến cửa phòng trọ của chị Trịnh Thị Nh dùng tô vít mở cửa, L lục tìm thấy 01 điện thoại di đồng Oppo Neo 7 màu trắng, 02 nhẫn bạc (mỗi nhẫn ghi 02 chỉ), 02 vòng bạc (mỗi vòng ghi 02 chỉ), 01 dây chuyền bạc ghi 04 chỉ và 150.000đồng. L cho toàn bộ vào túi và đi đến cửa hàng vàng bạc Quý Tùng của anh Nguyễn Văn Th (mởi tại thôn Giang Liễu) bán lấy tiền tiêu xài, chiếc điện thoại L giữ sử dụng.

Lần 5: Khoảng 15h ngày 29/10/2018, L vào dãy nhà trọ của anh Nguyễn Tuấn Th, sinh năm 1965, đến cửa phòng trọ của anh Nguyễn Văn Q và dùng tô vít mở cửa, L lấy được 01 thẻ ATM của ngân hàng Sacombank và 100.000đồng, sau đó do không có mật khẩu nên L vứt thẻ ATM.

Lần 6: Cùng ngày 29/10/2018, L vào dãy nhà trọ của anh Nguyễn Đức Ng, sinh năm 1974, lên tầng 2 đến cửa phòng trọ của chị Hoàng Thị Mít dùng kìm vặn tai ổ khóa mở cửa. L vào trong phòng thấy 01 đồng hồ đeo tay hiệu Quartz loại Skmei cùng 01 con lợn đất để ở dưới gầm giường, L dùng kìm đập lợn đất thấy có 100.000đồng, L lấy tiền và đồng hồ rồi về.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 97/KL-ĐGTS ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “Chiếc đồng hồ hiệu Quartz loại Skmei đã qua sử dụng còn giá trị 680.000đồng; 02 nhẫn bạc, 02 vòng bạc, 01 dây chuyền bạc trị giá 400.000đồng”

Vật chứng Th giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Opop Neo 7 màu trắng đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động hiệu Iphon 6 màu Gonld đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 CMND và 01 hộ chiếu đều mang tên Hoàng Văn L, 7.600.000đồng, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombak mang tên Đoàn Thị H, 01 tô vít màu vàng, 01 kìm màu đỏ, 01 túi sách đeo màu đen.

Ngoài các lần trộm cắp trên, Hoàng Văn L còn khai nhận cũng trong tháng 10/2018 đã thực hiện 08 lần cậy phá ổ khóa cửa tại 08 phòng trọ trên địa bàn thôn Giang Liễu nhưng chưa lấy được tài sản.

Ngày 31/10/2018, chị Bùi Thị D, chị Đinh Thị O, chị Triệu Thị Th, chị Trịnh Thị Nh và chị Hoàng Thị M làm đơn trình báo công an huyện Quế Võ về việc mất tài sản.

Ngày 07/11/2018, chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn Q làm đơn trình báo công an huyện Quế Võ về việc mất tài sản.

Ngày 14/12/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H 7.500.000đ, 01 thẻ ATM ngân hàng Vetcombank và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 222. Chị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Ngày 16/12/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại chị Trịnh Thị Nh 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu trắng, chị Nh đã nhận lại tài sản và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị giá trị 02 chiếc nhẫn bạc, 02 chiếc vòng bạc, 01 dây chuyền bạc và 150.000đồng tổng số tiền là 550.000đồng.

Ngày 18/12/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị M 01 chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Quariz Skmei đã qua sử dụng và số tiền 100.000đồng. Chị M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Đối với chiếc thẻ ATM của chị Hà Thị T, sau khi L không rút được tiền đã vứt chiếc thẻ này trên đường, nay không Th lại được. Chị Tiệp xác định chiếc thẻ ATM của chị là thẻ của ngân hàng Viettinbank có giá trị nhỏ. Chị không bị mất tiền trong thẻ nên chị không yêu cầu bồi thường.

Đối với số tiền 600.000đồng và 01 chiếc thẻ ATM của chị Bùi Thị D, nay không Th lại được. Chị D xác định chiếc thẻ ATM của chị là Thộc ngân hàng Mari time Bank có giá trị nhỏ. Chị không bị mất tiền trong thẻ nên chị không yêu cầu bồi thường. Chị D chỉ yêu cầu L trả chị 600.000đồng.

Đối với số tiền 3.500.000đồng và 01 con lợn bằng đất của chị, nay chị Th yêu cầu L phải bồi thường trả cho chị số tiền 3.500.000đồng, còn con lợn bằng đất chị Th không yêu cầu bồi thường.

Đối với chiếc thẻ ATM và số tiền 100.000đ của anh Nguyễn Văn Q , quá trình điều tra anh Q xác định chiếc thẻ ATM của anh Thộc ngân hàng Sacombank, anh Q xác định giá trị thẻ nhỏ và anh không bị mất tiền trong thẻ nên anh không yêu cầu bồi thường thẻ và không yêu cầu trả lại 100.000đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSQV ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố Hoàng Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng Th giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng Nh xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Văn L từ 15 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù được tình từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/10/2018.

- Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho: Chị Trịnh Thị Nh 550.000đồng; chị Bùi Thị D 600.000đồng; chị Triệu Thị Th 3.500.000đồng, chị Đinh Thị O 1.000.000đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 tô vít màu vàng, 01 kìm màu đỏ, 01 túi xách đeo màu đen. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphon 6.

Trả lại bị cáo: 01 chứng minh nhân dân và 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Văn L.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy Nh sau: Trong thời gian từ ngày 24/10/2018 đến ngày 30/10/2018, Hoàng Văn L đã thực hiện 07 hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 12h ngày 24/10/2018, L trộm cắp của chị Bùi Thị D600.000đồng.

Lần 2: Cùng ngày 24/10/2018, L trộm cắp của chị Đinh Thị O 1.000.000đồng.

Lần 3: Cùng ngày 24/10/2018, L trộm cắp của chị Triệu Thị Th 3.500.000đồng.

Lần 4: Ngày 26/10/2018, L trộm cắp của chị Trịnh Thị Nh 01 điện thoại di đồng Oppo Neo 7 màu trắng, 02 nhẫn bạc (mỗi nhẫn 02 chỉ), 02 vòng bạc (mỗi vòng 02 chỉ), 01 dây chuyền bạc 04 chỉ và 150.000đồng, giá trị tài sản trộm cắp của chị Nh là 1.000.000đồng.

Lần 5: Khoảng 15h ngày 29/10/2018, L trộm cắp của anh Nguyễn Văn Q 100.000đồng.

Lần 6: Cùng ngày 29/10/2018, L trộm cắp của chị Hoàng Thị M 01 đồng hồ đeo tay hiệu Quartz loại Skmei và 100.000đồng, giá trị tài sản trộm cắp của chị Mít là 780.000đồng.

Lần 7: Khoảng 15h ngày 30/10/2018, L trộm cắp của chị Đoàn Thị H 7.350.000đồng trong thẻ ATM và 01 điện thoại di động Nokia 222, giá trị tài sản trộm cắp của chị H là 7.550.000đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Hoàng Văn L trộm cắp là 14.530.000đồng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng Th giữ được cùng các chứng cứ, tại liệu khác. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, của cơ quan tổ chức được pháp luật bảo vệ. Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của những người bị hại, trong thời gian ngắn bị cáo liên tục thực hiện nhiều hành vi trộm cắp với tổng giá trị tài sản là 14.530.000đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi. Do vậy, cần thiết phải xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (trong đó có 02 lần trộm cắp tài sản mà giá trị tài sản trên 2.000.000đồng) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự thú và giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp của chị H và chị Mít để bồi thường Thệt hại, khắc phục hậu quả; Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề Ng và Th nhập ổn định nên không cần Thết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

- Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Buộc bị cáo bồi thường cho chị Trịnh Thị Nh 02 chiếc nhẫn bạc, 02 chiếc vòng bạc, 01 dây chuyền bạc và 150.000đ, tổng cộng là 5500.000đồng; chị Bùi Thị D 600.000đồng; chị Triệu Thị Th 3.500.000đồng, chị Đinh Thị O 1.000.000đồng.

Chị Đoàn Thị H, chị Hoàng Thị M đã nhận lại tài sản; chị Đoàn Thị H, chị Hoàng Thị M và chị Hà Thị T, anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

Đối với 01 tô vít màu vàng, 01 kìm màu đỏ, 01 túi sách đeo màu đen là vật dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại Iphon 6 bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch Th sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chứng minh nhân dân và 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Văn L, là giấy tờ tùy thân của bị cáo và không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản"

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tình từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/10/2018.

- Áp dụng: Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Văn L phải bồi thường cho: Chị Trịnh Thị Nh 550.000đồng, chị Bùi Thị D 600.000đồng, chị Triệu Thị Th 3.500.000đồng, chị Đinh Thị O 1.000.000đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 tô vít màu vàng, 01 kìm màu đỏ, 01 túi xách đeo màu đen

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphon 6.

Trả lại bị cáo: 01 chứng minh nhân dân, 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Văn L.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HSST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:07/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về