Bản án 07/2019/HSST ngày 21/01/2019 về tội giao cấu với trẻ em

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

BẢN ÁN 07/2019/HSST NGÀY 21/01/2019 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM

Ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 245/2018/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2018/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thanh H; (tên gọi khác: C) SN: 1995 tại: K; HKTT: KP4, thị trấn Dương đồng, huyện P, tỉnh K.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 02/12; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Cha: Lê Văn Lớn E, (đã chết); Mẹ: Lê Thị Kim C, SN 1972; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bắt ngày 26/7/2018 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Phạm Nguyễn T, sinh ngày 10/10/2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 3, xã An Thới, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 07/2015, tại thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Lê Thanh H quen biết với cháu Phạm Nguyễn Trân, SN: 10/10/2000. Tại đây, H và cháu T đã nảy sinh tình cảm yêu đương. Khoảng tháng 04/2016, H rủ cháu T đến TP VũngTàu xin việc làm, cháu T đồng ý. Khi đến TP VũngTàu, H thuê phòng trọ tại số 415/6 Nguyễn Hữu Cảnh, phường 10, TP Vũng Tàu chung sống với cháu Trân. Trong khoảng thời gian sống tại phòng trọ nêu trên, H và cháu T đã nảy sinh quan hệ tình dục với nhau 02 lần: Lần 1 vào ngày 15/4/2018, H và cháu T tự nguyện quan hệ tình dục với nhau lần đầu tiên, lần 2 vào ngày 19/4/2018, H và cháu T tự nguyện quan hệ tình dục với nhau. Cả 02 lần H đều không sử dụng bao cao su và đều xuất tinh vào âm hộ của cháu T. Đến khoảng cuối tháng 04/2016, H và cháu T quay về sống tại thị trấn P. Ngày 29/4/2016, ông Phạm Phú N (bố của cháu T) đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tố giác Lê Thanh H vì đã có hành vi quan hệ tình dục với con gái ông là Phạm Nguyễn T.

Bản kết luận giám định Pháp y về tình dục số 151/TD ngày 26/5/2018 đối với cháu Phạm Nguyễn T kết luận: không có sây sát da hay bầm tím ở cùng bẹn đùi hai bên; màng trinh rách cũ ở vị trí 4 giờ; không có tỷ lệ tổn thương cơ thể; tìm không thấy tinh trùng.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, ngày 16/7/2018, H đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang khởi tố bắt tạm giam về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tại cơ quan điều tra Công an TP Vũng Tàu, Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Thanh H đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em”.

Bản cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 28/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Lê Thanh H về tội “Giao cấu với trẻ em” theo khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điêu 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 03 đến 04 tù.

Trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho bị hại nên đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo công nhận Viện kiêm sát truy tố đúng người, đúng tội và bị cáo xin HĐXX xem xét cho giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi của bị cáo được xác định như sau: Trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2016, Lê Thanh H quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với cháu Phạm Nguyễn T, SN: 10/10/2000. Vào các ngày 15/4/5016 và 19/4/2016, tại nhà trọ số 415/6 Nguyễn Hữu Cảnh, phường 10, TP Vũng Tàu ,Lê Thanh H đã 02 lần có hành vi giao cấu với cháu Phạm Nguyễn T. Hành vi của Lê Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em” theo tình tiết định khung “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 115 Bộ Luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 28/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo Lê Thanh H theo điểm b khoản 2 Điều 115 Bộ Luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 137/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Do đó, áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Xét tính chất, mức độ, H quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiêm cho xã hội; Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành khoẻ mạnh, nhận thức được hành vi của bản thân và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rằng, việc giao cấu đối với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn và để thỏa mãn dục vọng tức thời nên bị cáo cố tình phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý, gây tác hại cho sự phát triển đạo đức mà còn ảnh hưởng đến danh dự, nhân cách, tâm sinh lý của bị hại, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét áp dụng điểm s khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) nên ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bô: bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Giao cấu với trẻ em”;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điêu 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Xử phạt: Lê Thanh H 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 137/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Tổng hợp hình phạt chung là 11 (Mười một ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 7 năm 2018.

- Về trách nhiệm dân sự : áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Thanh H phải bồi thường cho chị Phạm Nguyễn T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi trên số tiền gốc với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tại thời điểm thanh toán, tương ứng với số tiền còn phải thi hành án và thời gian chậm trả.

- Án phí : Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, riêng những người tham gia tố tụng khác vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ và niêm yết công khai để yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


136
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HSST ngày 21/01/2019 về tội giao cấu với trẻ em

Số hiệu:07/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về