Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CLD xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Đ, xã An TĐ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng;

- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Đ, xã An TĐ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14/02/2019, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Võ Văn T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 1995. Đến ngày 15/8/2004, chị và anh T mới đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã An TĐ, huyện CLD. Thời gian đầu chị và anh T chung sống hạnh phúc, đến tháng 01/2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và kể từ tháng 01/2013 thì chị và anh T sống ly thân cho đến nay.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh T có hai người con chung tên: Võ Thị Anh T, sinh ngày 16/01/1997 và Võ Nhật H, sinh ngày 07/3/2003. Hiện Võ Thị Anh T và Võ Nhật H đang sống chung với chị L.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung.

Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị với anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Được ly hôn với anh Võ Văn T.

Về con chung: Được nuôi dưỡng người con tên: Võ Nhật H, sinh ngày 07/3/2003 cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi cháu H thì chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Đối với người con tên: Võ Thị Anh T, sinh ngày 16/01/1997 đã thành niên nên chị không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Võ Văn T đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CLD phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn đều vắng mặt các lần Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đều vắng mặt tại các lần mở phiên tòa xét xử. Cho nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa cho thấy: Tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị L với anh Võ Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đương sự hiện không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chị L và anh T đã sống ly thân từ tháng 01/2013 cho đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị L được ly hôn với anh T.

Về con chung: Đối với cháu Võ Nhật H, sinh ngày 07/3/2003, từ khi chị L và anh T sống ly thân đến nay thì chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu H cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu H. Đối với người con tên: Võ Thị Anh T, sinh ngày 16/01/1997 (đã thành niên), chị L không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu H nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn trình bày là không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, các đương sự có địa chỉ tại ấp Đ, xã An TĐ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện CLD thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.

[3] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Võ Văn T, tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

[4] Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Phạm Thị L đối với anh Võ Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân của chị L và anh T không vi phạm các điều kiện kết hôn và sau khi sống chung hai người có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An TĐ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị L với anh T phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu xin được ly hôn với anh T. Mặt khác, giữa chị L với anh T đã sống ly thân từ tháng 01/2013 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh T.

[5] Về con chung: Đối với cháu Võ Nhật H, sinh ngày 07/3/2003, từ khi chị L và anh T sống ly thân cho đến nay, chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu H cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp với nguyện vọng của cháu H và phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với người con tên: Võ Thị Anh T, sinh ngày 16/01/1997 (đã thành niên), chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày là không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Lời đề nghị của Vị Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Chị Phạm Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Võ Văn T.

2. Về con chung tên: Chị Phạm Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: Võ Nhật H, sinh ngày 07/3/2003 đến khi thành niên. Đối với người con tên: Võ Thị Anh T, sinh ngày 16/01/1997 (đã thành niên), chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày là không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000660, ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CLD. Như vậy, chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Võ Văn T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

210
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về