Bản án 07/2019/DSPT ngày 11/03/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 07/2019/DSPT NGÀY 11/03/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE 

Ngày 11 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2018/TLPT-DS ngày 10-12-2018 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe” Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 22/2019/QĐXX-PT ngày 28 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T1– Sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn D, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T2 (Bùi Viết T) - Sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn D, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Người kháng cáo: Ông Bùi Văn T1và anh Bùi Văn T2.

Tại phiên tòa: Ông Bùi Văn T1có mặt, anh Bùi Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa, nguyên đơn là ông Bùi Văn T1trình bày:

Ngày 25/7/2015 sau khi đi nộp thuế đất về ông có vào nhà mẹ đẻ ông là bà Trịnh Thị T ở Thôn D, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định và nói “Mẹ cho con mượn cái sổ đỏ để con ra xã tách riêng đất nhà con ra”. Mẹ ông nói “Sổ đỏ thằng Thắng nó cầm đấy”. Lúc đó Bùi Văn T2 đang nằm ở giường, ông đến bảo Thắng “Mày đưa cho chú cái bìa đỏ để chú ra xã tách đất ra”. Thắng nói “Tao không đưa đấy làm gì tao thì làm”. Ông bực tức nên tát cho Thắng một cái và bảo “Mày không có quyền cầm sổ đỏ cái nhà này”. Thắng vùng dậy cầm máy chà gỗ đánh vào mặt ông và nói “Lần này tao cho mày chết” rồi bỏ chạy. Lúc đó ông vơ được chiếc máy chà ném theo Thắng nhưng không trúng, thấy chảy nhiều máu ở mặt ông kêu cứu mọi người chạy về gọi vợ con ông. Sự việc đã được chính quyền địa phương lập biên bản. Ông được vợ con đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện Ý Yên, sau đó bác sĩ giới thiệu lên bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội điều trị.

Ông nằm điều trị ở bệnh viện Bạch Mai từ ngày 26/7/2015 đến ngày 08/8/2015 thì ra viện, bác sỹ hẹn ông lên tái khám. Ngày 28/9/2015 ông lên phẫu thuật đến ngày 07/10/2015 xuất viện. Bệnh viện kết luận ông bị vỡ xương mũi, đụng dập nhãn cầu, lệch thủy tinh thể. Ngày 27/4/2017 ông phải đi điều trị tại bệnh viện mắt Nam Định đến ngày 07/5/2017 mới ra viện. Công an huyện Ý Yên cho ông đi giám định thương tích, kết luận tỉ lệ thương tích của ông là 25% nhưng không giải quyết về hình sự. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Bùi Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông các khoản sau:

Tiền viện phí: 20.940.000 đồng;

Tiền xe đẩy ở bệnh viện: 300.000 đồng;

Tiền thuê xe ô tô 6 lần, mỗi lần 1.500.000 đồng là 9.000.000 đồng;

Tiền ăn ở bệnh viện từ ngày 25/7/2015 đến ngày 07/8/2015 là 14 ngày đối với 02 người, mỗi người 200.000 đồng/ ngày là 5.600.000 đồng;

Tiền ăn từ ngày 28/9/2015 đến ngày 07/10/2015 là 11 ngày đối với 02 người, mỗi người 200.000 đồng/ ngày là 4.400.000 đồng;

Tiền công chăm sóc của vợ ông từ ngày 25/7/2015 đến ngày 07/10/2015 là 72 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng là 14.400.000 đồng.

Tiền ngày công làm mộc của ông từ ngày 25/7/2015 đến ngày 07/10/2015 là 72 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng là 21.600.000 đồng;

Tiền ngày công lao động bị mất trong thời gian 06 tháng không lao động được do phải nối dây chằng tinh thể, mỗi tháng 9.000.000 đồng là 54.000.000 đồng.

Chi phí điều trị tại Bệnh viện mắt Nam Định từ ngày 27/4/2017 đến ngày 07/5/2017 bao gồm:

Tiền viện phí: 6.000.000 đồng do bảo hiểm thanh toán.

Tiền ăn 10 ngày của 02 người, mỗi ngày 200.000 đồng là 4.000.000 đồng; Tiền thuê xe: 1.000.000 đồng;

Tiền công chăm sóc của vợ ông trong 10 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng là 2.000.000 đồng;

Tiền công thu nhập bị mất trong 10 ngày điều trị, mỗi ngày 300.000 đồng là 3.000.000 đồng.

Tiền khám và giám định: 2.500.000 đồng; Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 14.260.000 đồng;

Tiền tổn hại sức khỏe và tiền tổn thất về tinh thần: 30.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền ông yêu cầu anh Bùi Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông là: 193.000.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu đồng).

Tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là anh Bùi Văn T2 trình bày:

Vào hồi 11 giờ ngày 25/7/2015 anh đang ôm con gái ngủ trên giường tại nhà thì có ông Bùi Văn T1(là chú ruột) vào nhà có lời qua tiếng lại với bà nội là bà Trịnh Thị T. Anh không rõ sự việc ra sao thì ông T1tiến lại giường nơi anh đang ôm con ngủ và quát to:" Thằng kia đưa sổ đỏ đây", anh giật mình tỉnh dậy rồi nói "Sổ nào cháu không biết". Ngay lập tức ông T1cúi xuống đấm và tát anh lia lịa vào mặt, đầu anh. Vì quá bất ngờ và trong tình trạng nằm ôm con nhỏ anh hoa mắt chóng mặt không làm gì được chỉ biết ôm con nhỏ để bảo vệ khỏi bị ông T1 đánh vào người, đến khi không chịu được nữa và một phần sợ con nhỏ bị làm sao thì anh sẽ ân hận nên anh vùng dậy một tay ôm con nhỏ, một tay để tự vệ chống đỡ những nhát đấm của ông T1. Sau khi anh để được con nằm xuống giường, tìm cách chạy ra ngoài nhưng không được vì nhà anh chỉ có một lối ra duy nhất là cửa chính mà ông T1 lại đứng hướng đó nên anh không chạy được.

Ông T1 tiếp tục đấm anh nhưng anh đỡ được nên lấy tay hất ra, theo phản ứng tự vệ anh đấm vào mặt ông T1 làm ông ngã ra va vào chiếc quạt và tường gần đó. Bà nội anh chạy đến can ngăn và lúc đó có lối thoát anh chạy sang nhà hàng xóm tạm lánh. Sau đó ông T1 về gọi vợ, con là Dương Thị T và Bùi Văn S tiếp tục cầm dao, gậy gộc vào nhà anh tìm và đe dọa tính mạng anh, chửi bới, hăm dọa, sỉ nhục mọi người trong gia đình anh. Không tìm được anh họ quay ra đập phá tài sản nhà anh. Các tài sản bị đập phá gồm: 01 máy chà makita Nhật; 01 máy mài Nhật; 01 quạt gió; 01 xe đồ chơi; 02 tấm ván mặt bàn gỗ hương. Hàng xóm đến can ngăn và gọi chính quyền địa phương đến thì gia đình ông T1 mới dừng lại.

Nay ông T1 yêu cầu bồi thường, anh không nhất trí vì bị gia đình ông T1 đã nhiều lần đến chửi bới, sỉ nhục, đe dọa và đánh anh trước làm cho anh bị sức ép dẫn đến tình trạng bị kích động mạnh nên mới đánh ông T1. Anh xác định không có lỗi trong việc này.

Việc ông T1 đập phá tài sản của anh, anh không đề nghị giải quyết về dân sự mà sẽ đề nghị cơ quan công an giải quyết về hình sự.

Tại Biên bản làm việc ngày 18/7/2018, chính quyền địa phương xã Y cho biết: Sự việc xô xát giữa ông Bùi Văn T1và anh Bùi Văn T2 xảy ra vào ngày 25/7/2015 tại nhà bà Trịnh Thị T (Bà Thanh là mẹ đẻ ông T1 và là bà nội của anh T2) ở thôn D xã Y huyện Ý Yên tỉnh Nam Định. Nguyên nhân là do việc tranh chấp đất đai giữa ông Bùi Văn T1 và anh Bùi Văn T2. Cụ thể: Vào khoảng 11h ngày 25/7/2015 ông T1 hỏi mượn sổ đỏ để làm thủ tục tách đất. Ông T1 vào trong nhà hỏi bà Thanh "Bà đưa sổ đỏ cho tôi", bà Thanh trả lời "Tao không cầm, thằng Thắng nó cầm". Lúc đó Bùi Văn T2 đang nằm cùng con nhỏ trong giường, cách chỗ ông T1ngồi 02m, tức thì ông T1 đứng dậy đi đến gần giường Thắng và bảo Thắng "Sổ đỏ đâu, mày đưa cho tao". Thắng nói "Tôi không biết", ông T1 cúi người xuống đấm vào mặt anh T2 đang nằm trên giường. Bị ông T1 đánh, anh T2 vùng dậy đấm vào mặt ông T1 khiến cho ông T1 ngã vào tường và chiếc quạt cây điện ở gần đó và bị thương tích ở vùng mặt. Sau đó Thắng bỏ chạy ra ngoài, ông T1 chạy ra ngoài sân xưởng làm mộc của Thắng cầm chiếc máy chà ném vào Thắng nhưng không trúng. Ông Bùi Văn T1 được đưa đi viện cấp cứu và điều trị, toàn bộ sự việc đã được chính quyền địa phương cùng công an xã Y tiến hành lập biên bản giải quyết vụ việc và chuyển vụ việc này lên cơ quan Công an huyện Ý Yên giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 30/11/2015 Trung tâm Pháp y tỉnh Nam Định kết luận tỉ lệ thương tích của ông T1là 25%. Hành vi gây thương tích cho ông T1 của anh Bùi Văn T2 được Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Công an Ý Yên kết luận là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 105 Bộ luật hình sự năm 1999 do anh T2 gây thương tích cho ông T1 trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Công an huyện Ý Yên đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính đối với ông Bùi Văn Thành, anh Bùi Văn T2 và anh Bùi Văn S.

Về mức thu nhập của ông T1 và bà Dương Thị T (Vợ ông T1), địa phương cho biết: Ông T1 hiện đang làm nghề thợ mộc, bà T đang làm ruộng ở nhà.

Căn cứ vào tình hình địa phương, thu nhập bình quân chung đối với nghề thợ mộc trên địa bàn xã Y là 250.000 đồng/ngày.

Theo báo cáo trình Hội đồng nhân dân năm 2015-2016 tổng thu nhập bình quân/người/năm của xã Y là 32.000.000 đồng/người/năm.

Theo báo cáo trình Hội đồng nhân dân năm 2017-2018 tổng thu nhập bình quân/người/năm của xã Y là 35.000.000 đồng/người/năm.

Anh Bùi Văn Tuyên có lời khai: Ông Bùi Văn T1 làm việc tại xưởng mộc của anh từ tháng 8/2008 đến nay. Anh trả lương cho ông T1 theo ngày công lao động, ngày làm 8 tiếng. Tính từ thời điểm tháng 7/2015 anh trả cho ông T1 02 mức, hôm ông T1 làm pha gỗ trả 300.000 đồng/ngày, hôm làm lắp ráp đồ trả 250.000 đồng/ngày. Trong đó một tháng ông T1 làm đều 30 ngày, có 15 ngày pha gỗ và 15 ngày lắp ráp đồ. Tính bình quân anh trả công cho ông T1275.000 đồng/ngày

Bản án sơ thẩm số 03 ngày 24/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên đã quyết định:

Áp dụng Khoản 5 Điều 147; Khoản 2 Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 604, Điều 605, 606, 607 và Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe của ông Bùi Văn T1 đối với anh Bùi Văn T2

- Buộc anh Bùi Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe đã gây ra cho ông Bùi Văn T1với số tiền là 74.759.400 đồng (Bảy mươi tư triệu bảy trăm năm chín nghìn bốn trăm đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Văn T2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.737.970 đồng (Ba triệu bảy trăm ba bảy nghìn chín trăm bảy mươi đồng); Ông Bùi Văn T1được miễn án phí theo quy định.

* Tại đơn kháng cáo ngày 03/10/2018 ông Bùi Văn T1 và anh Bùi Văn T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, cụ thể như sau:

- Ông Bùi Văn T1 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền bồi thường mà Tòa án huyện Ý Yên giải quyết.

- Anh Bùi Văn T2 không chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông T1, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại để bảo vệ quyền lợi cho anh.

Tại phiên toà phúc thẩm: Ông T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo như đã nêu trên, ông không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ gì mới.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông ông Bùi Văn T1 và anh Bùi Văn T2. Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03 ngày 24/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên

- Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Bùi Văn T2 là bị đơn trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra vào ngày 25/7/2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết vụ án.

[3] Về nội dung vụ việc: Trên cơ sở lời khai của các đương sự và các tài liệu chứng cứ khác, có đủ căn cứ xác định vào khoảng 11 giờ ngày 25/7/2015, tại nhà bà Trịnh Thị T ở Thôn D, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định, do mâu thuẫn nên giữa anh T2 và ông T1 có lời qua tiếng lại với nhau, khi bị ông Bùi Văn T1 dùng tay đánh vào mặt thì anh T2 vùng dậy đấm vào mặt ông T1 làm cho ông T1 ngã vào tường và chiếc quạt cây điện ở gần đó gây thương tích ở vùng mặt. Ông T1 được đưa đi Bệnh viện huyện Ý Yên sơ cứu đến ngày 26/7/2015 chuyển lên điều trị ở bệnh viện Bạch Mai đến ngày 07/08/2015 thì ra viện, bác sỹ hẹn ông lên tái khám. Ngày 28/9/2015 ông lên phẫu thuật đến ngày 07/10/2015 ông được xuất viện. Bệnh viện kết luận ông bị vỡ xương mũi, đụng dập nhãn cầu, lệch thủy tinh thể. Ông T1 được cơ quan công an cho đi giám định thương tích, kết luận tỉ lệ thương tích là 25%. Hành vi gây thương tích cho ông T1 của anh Bùi Văn T2 được Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên kết luận là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 105 BLHS năm 1999 do anh T2 gây thương tích cho ông T1 trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Bản thân anh T2 thừa nhận có đánh ông T1 nhưng anh không có lỗi vì ông T1 chửi đánh anh trước nên anh không chấp nhận bồi thường cho ông T1.

Như vậy thiệt hại về sức khỏe của ông T1 là thực tế và do hành vi trái pháp luật của anh T2 gây ra cho ông T1 với lỗi cố ý. Vì vậy yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe của ông T1là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T1 và buộc anh Bùi Văn T2 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Bùi Văn T1 là đúng pháp luật. Tuy nhiên trong sự việc này bản thân ông Bùi Văn T1 cũng có một phần lỗi khi đã đến nhà chửi bới, đánh anh T2 trước, nên ông cũng phải chịu một phần thiệt hại.

Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm tính toán một số khoản chi phí thiệt hại chưa hợp lý, chưa phù hợp với quy định của pháp luật nên cần xem xét tính toán lại. Cụ thể: Bà Dương Thị T (Vợ ông T1) đã được tính tiền công phục vụ trong thời gian ông T1 điều trị thương tích 75 ngày là 6.675.000đ, rồi lại được tính khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chăm sóc ông T 175 ngày với số tiền 6.675.000đ là không hợp lý nên cần bỏ đi một khoản; khoản tiền bù đắp về tinh thần 30.000.000đ là cao so với quy định nên cần giảm xuống mức 20.000.000đ cho phù hợp.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ- HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Trên cơ sở các hóa đơn chứng từ do ông T1 xuất trình, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản chi phí hợp lý và thiệt hại thực tế của ông Bùi Văn T1 như sau:

- Chi phí khám, điều trị, chụp chiếu, mua thuốc, viện phí, lệ phí tại bệnh viện huyện Ý Yên và bệnh viện Bạch Mai từ ngày 25/7/2015 đến ngày 07/8/2015 và từ ngày 28/9/2015 đến ngày 07/10/2015 tại Bệnh viện Bạch Mai: 21.023.000 đồng.

- Tiền bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe: 10.000.000 đồng.

- Tiền thuê xe đi về bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội: 06 chuyến x 1.500.000 đồng = 9.000.000 đồng.

- Đối với ngày công lao động của ông T1và bà T: Căn cứ vào tài liệu xác minh tại địa phương và cung cấp của ông Bùi Văn Tuyên - là người thuê ông T1làm mộc và trả công cho ông T1. Ngày công của ông T1 được tính theo mức 275.000 đồng/ngày, ngày công lao động của của bà Dương Thị T là 88.000 đồng/ngày (32.000.000đ/người/năm : 365 ngày = 88.000đ)

- Thu nhập thực tế của ông T1 bị mất đi trong quá trình điều trị thương tích từ 25/7/2015 đến 07/8/2015 là 14 ngày x 275.000 đồng/ngày = 3.850.000 đồng.

- Thu nhập thực tế của ông T1 bị mất trong thời gian điều trị chờ tái khám và mổ được chấp nhận từ ngày 08/8/2015 đến ngày 27/9/2015 là 51 ngày x 275.000 đồng/ngày = 14.025.000 đồng.

- Thu nhập thực tế của ông T1 bị mất đi trong quá trình điều trị thương tích từ 28/9/2015 đến 07/10/2015 là 10 ngày x 275.000 đồng = 2.750.000 đồng.

- Thu nhập thực tế của ông T1 bị mất đi sau khi ra viện được chấp nhận là 30 ngày x 275.000 đồng/1ngày = 8.250.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất đi của bà Dương Thị T (Vợ ông T1) trong thời gian chăm sóc ông T1 là 75 ngày x 89.000 đồng = 6.675.000 đồng.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 20.000.000 đồng.

Tổng số tiền các khoản chi phí hợp lý và thiệt hại thực tế của ông Bùi Văn T1 là 95.573.000đ (Chín mươi lăm triệu năm trăm bẩy ba nghìn đồng).

Do ông Bùi Văn T1 có một phần lỗi nên ông phải chịu một phần ba tổng số chi phí thiệt hại về sức khoẻ, vì vậy cần buộc anh T2 phải bồi thường cho ông T1khoản tiền là 63.716.000đ (Sáu mươi ba triệu bẩy trăm mười sáu nghìn đồng)

Đối với khoản chi phí mà ông Bùi Văn T1 điều trị tại Viện mắt Nam Định từ ngày 27/4/2017 đến ngày 07/5/2017 bao gồm: Tiền ăn của 2 người trong 10 ngày là 4.000.000 đồng; tiền thuê xe 1.000.000 đồng; tiền công của người chăm sóc trong 10 ngày là 2.000.000 đồng; tiền công thu nhập bị mất của ông đi trong thời gian điều trị 10 ngày là 3.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như phúc thẩm ông T1 không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét giải quyết.

[4] Tài sản anh T2 trình bày bị ông T1, anh S hủy hoại bao gồm: 01 máy chà makita Nhật; 01 máy mài Nhật; 01 quạt gió; 01 xe đồ chơi; 02 tấm ván mặt bàn gỗ hương. Anh T2 không yêu cầu bồi thường dân sự mà có quan điểm sẽ đề nghị cơ quan Công an giải quyết về hình sự nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Ông Bùi Văn T1 được miễn, anh Bùi Văn T2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Sửa bản án sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 24/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên.

Áp dụng Khoản 5 Điều 147; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604, 605, 606, 607, 609 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe của ông Bùi Văn T1 đối với anh Bùi Văn T2.

2. Buộc anh Bùi Văn T2 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Bùi Văn T1 với số tiền là 63.716.000đ (Sáu mươi ba triệu bẩy trăm mười sáu nghìn đồng).

3. Về án phí: Anh Bùi Văn T2 phải nộp 3.185.000đ (Ba triệu một trăm tám lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Anh T2 được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số AA/2015/0000928 ngày 03/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, anh T2 còn phải nộp 3.185.000đ (Ba triệu một trăm tám lăm nghìn đồng). Miễn án phí cho ông T1.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


174
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về