Bản án 07/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 07/2018/DS-ST NGÀY 13/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2018/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/QĐST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Minh H và bà Phạm Thị H1.

Trú tại: Cụm 6, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng; bà Phạm Thị H1 ủy quyền cho ông Nguyễn Minh H. Có mặt.

Bị đơn: Ông Hà Văn V trú tại: Thôn N T, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Minh H trình bày: Ngày 11 tháng 04 năm 2014, ông, bà có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Vĩnh Bảo số tiền 27.00 0.000 đồng. Sau khi vay được số tiền trên thì ông Hà Văn V có vay lại của ông H 13.000.000 đồng, lãi suất theo lãi của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Vĩnh Bảo là 0,65%/tháng, không lập bằng văn bản. Việc ông V vay tiền của ông H có ông Nguyễn Văn Biệc - Chi Hội trưởng Chi Hội Nông dân Cụm 6 xã T H , huyện V B biết. Ông Biệc là người thu tiền lãi của khoản tiền 13 triệu đồng của ông Hà Văn V thay ông, bà trả Ngân hàng Chính sách xã hội đến tháng 4 năm 2017 còn gốc ông V chưa trả. Ngày 18 tháng 01 năm 2018 ông có gặp ông V đòi tiền thì ông V có ký xác nhận vào văn bản còn nợ ông 13 triệu đồng và tiền lãi chưa trả có ông Phạm Văn Dương làm chứng. Nay vợ chồng ông yêu cầu ông Hà Văn V phải trả ông, bà số tiền vay gốc là 13 triệu đồng tính lãi theo lãi suất 0,65% tháng kể từ tháng 4 năm 2017 đến nay là 19 tháng tổng lãi là 19 tháng x 13.000.000 đồng x 0,65% tháng là 1.605.500 đồng. Lãi cộng gốc là 14.605.500 đồng.

Bị đơn: Ông Hà Văn V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Hà Văn V không nộp bản tự khai, không tham gia các hoạt động tố tụng. Đến tháng 4 năm 2018 ông Hà Văn V đã bỏ công tác Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã T H huyện V B đi đâu không rõ địa chỉ.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ, tham gia các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ, không tham gia các hoạt động tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 688 BLDS 2015 buộc ông Hà Văn V phải trả vợ chồng ông Nguyễn Minh H số tiền nợ gốc là 13.000.000 đồng tính lãi 0,65% từ tháng 4 năm 2017 đến nay là 19 tháng, tổng lãi là 1.605.500 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ông Hà Văn V đang trú tại Thôn N T, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Phạm Thị H1 khởi kiện ông Hà Văn V về tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo. Trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành không nghiêm. Ông Hà Văn V vắng mặt 2 lần tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Hà Văn V.

[2]. Về nội dung vụ án: Yêu cầu của vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Phạm Thị H1 yêu cầu ông Hà Văn V phải trả số tiền 13.000.000 đồng nợ gốc; tính lãi 0,65% tháng, thời gian tính lãi 19 tháng là có căn cứ, bởi nó phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản xác định nợ có chữ ký của ông Hà Văn V có ông Phạm Văn Dương làm chứng. Lãi suất 0,65% tháng là phù hợp với điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Nay cần buộc ông Hà Văn V phải thanh toán trả vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Phạm Thị H1 cả gốc và lãi là 14.605.500 đồng là phù hợp với Điều 466 BLDS 2015

[3]. Về án phí: Vợ chồng ông Nguyễn Minh H không phải chịu án phí.

Ông Hà Văn V phải chịu án phí dân sự là 730.275 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463, 466, 468, 688 Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Buộc ông Hà Văn V phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Minh H số tiền nợ gốc là 13.000.000 đồng và 1.605.500 đồng tiền lãi, tổng gốc lãi là 14.605.500 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm linh năm ngàn năm trăm đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Án phí: Vợ chồng ông Nguyễn Minh H, bà Phạm Thị H1 không phải chịu án phí. Hoàn lại vợ chồng ông Nguyễn Minh H 330.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 15960 ngày 29-3-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Ông Hà Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 730.275 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự

Số hiệu:07/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về