Bản án 07/2017/HSST ngày 06/12/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 07/2017/HSST NGÀY 06/12/2017 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2017/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Đức T - Sinh năm 1970; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: Ấp A, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Đinh Đức L (đã chết) và bà Hồ Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1971; Con: Gồm 02 người lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam ngày 22/5/2017, cho tại ngoại ngày 08/6/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Bà Võ Thị Ngọc D – Sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: 92B, đường C, khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Bà Nguyễn Thị V – Sinh năm 1971 ( xin vắng mặt)

2/Anh Đinh Đức T – Sinh năm 1990 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đinh Đức T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đinh Đức T và bà Võ Thị Ngọc D quen biết với nhau đã lâu do cùng làm nghề kinh doanh, mua bán. Từ ngày 27/9/2015 đến ngày 28/3/2016, bà D đã đưa tiền cho T tổng cộng 22 lần, với tổng số tiền là 402.000.000 đồng. Bà D và T thỏa thuận: Bà D đưa trước số tiền trên cho T là để T thu mua trái nhàu khô từ người dân với giá 15.000 đồng đến 16.000 đồng/kg, sau đó T bán lại trái nhàu khô cho bà D với giá 19.000 đồng/kg. Sau khi nhận tiền từ bà D, T đã thực hiện thu mua trái nhàu khô nhiều nơi giao cho bà D tương ứng với số tiền T đã nhận. Nhưng khi thực hiện xong việc mua bán với T, do kho hàng của mình đang sửa chữa nên bà D gửi lại cho T quản lý số nhàu này tại kho hàng của T thuộcẤp A, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, giao kết bà D sẽ lấy hàng vào tháng 8/2016.

Đến tháng 5/2016, T nảy sinh ý định chiếm đoạt số nhàu này bán lấy tiền tiêu xài nên bán số trái nhàu khô của bà D gửi tại kho của mình cho người khác mà không cho bà D hay biết. Từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016, T đã nhiều lần bán trái nhàu mà bà D gửi lại tại kho mình cho anh Lê Tấn Đ (tên gọi khác Tý, sinh năm 1986, HKTT: Ấp An Điền 2, xã Trung H, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) tổng số 15 tấn với giá 16.000 đồng/kg, thành tiền 240.000.000 đồng. T bán cho anh Lê Minh H (sinh năm 1978, HKTT: Khu phố 1, phường Tân Chánh, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) hai lần, tổng số 3 tấn nhàu khô với giá 16.000 đồng/kg, thành tiền 48.000.000 đồng. Đến ngày 09/8/2016, T tiếp tục đem 3.174 kg trái nhàu khô đi bán cho anh Lê Tấn Đ thì bị bà D phát hiện và thu hồi lại số nhàu khô này. Tổng cộng các lần T bán cho anh Đ và anh H là 18 tấn x 16.000 đồng/kg, thành tiền 288.000.000 đồng.

Tại kết luận số 15/KL-HDĐGTS ngày 24/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thới Bình kết luận: 22 tấn nhàu khô x 19.000 đồng = 418.000.000 đồng.

Trong giai đoạn điều tra, cũng như tại các biên bản đối chất, đối cH bà D và T thống nhất tổng số nhàu khô T lấy của bà D bán cho H và Đ là 18 tấn, và 3.174 kg nhàu khô bà D đã thu giữ lại. Hơn nữa, thời điểm T chiếm đoạt tài sản từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016, nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định tài sản là nhàu khô thị trường giai đoạn này. Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thới Bình kết luận, từ thời điểm tháng 5/2016 đến tháng 8/2016: Giá thị trường mỗi kg nhàu khô: 1 x 19.000 đồng = 19.000 đồng. 18 tấn x 19.000 đồng = 342.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 43/KSĐT-KT ngày 05/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố bị cáo Đinh Đức T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 140 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình giữ quyền công tố trình bày lời luận tội, giữ y nội D bản cáo trạng, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 đến 12 năm nhẹ hơn so với quy định tại khoản 3 Điều 140 của Bộ luật hình sự hiện hành và căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của  Quốc hội về việc áp dụng các tình tiết có lợi cho người phạm tội nên cần áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo. Từ những lí do trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 140, điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự phạt bị cáo Đinh Đức T từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, có xem xét đến điều khiện cho hưởng án treo đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục cho bà D nhiều lần, bà D trực tiếp nhận, còn 140.000.000 đồng bị cáo T nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thới Bình, đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, bà D chưa nhận được, tại tòa bị cáo và bà D tự thỏa thuận bà D được nhận lại nên công nhận sự thỏa thuận này. Bà D không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Đức T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng tại vụ án;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Do quen biết với nhau đã lâu và cùng làm nghề kinh doanh, mua bán, lợi dụng sự tin tưởng của bà Võ Thị Ngọc D nên từ khoảng tháng 5/2016 đến tháng 8/2016, bị cáo T đã tự ý lấy 18 tấn trái nhàu khô của bà D gửi cho T để bán cho người khác lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản được định giá với giá trị là 342.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội D bản cáo trạng, lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đinh Đức T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng sự quen biết, quan hệ làm ăn mua bán của bị cáo và bị hại, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại, bị cáo lấy số nhàu khô của bà D gửi tại kho của bị cáo bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội là lỗi cố ý. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Đinh Đức T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 140 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung và của địa phương nói riêng. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa để bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục thiệt hại cho bị cáo, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng. Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 đến 12 năm tù nhẹ hơn so với quy định tại khoản 3 Điều 140 của Bộ luật hình sự hiện hành và căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc áp dụng các tình tiết có lợi cho người phạm tội nên cần áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo  nên Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo là có cơ sở, cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục cho bà D nhiều lần, bà D trực tiếp nhận, còn 140.000.000 đồng bị cáo nộp hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang quản lý, bị cáo và bà D đã tự thỏa thuận là bà D nhận được nhận lại nên công nhân sự thỏa thuận này. Bà D không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại nên không xét.

Đối với số tiền bà Nguyễn Thị V, anh Đinh Đức T khắc phục thay cho bị cáo T số tiền 240.000.000 đồng. Tại tòa, Bà V, anh T có đơn không đặt ra yêu cầu đối với số tiền khắc phục thay cho bị cáo T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Lê Tấn Đ, anh Lê Minh H mua trái nhàu khô của bị cáo nhưng anh Đ và anh H không biết tài sản là do phạm tội có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình không xử lý là phù hợp.

Bị cáo phải nộp án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Đức T phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 140; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Đức T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Đinh Đức T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bà D được nhận lại số tiền 140.000.000 đồng do bị cáo T khắc phục, số tiền này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang quản lý.

Căn cứ vào Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Đức T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án này là sơ thẩm, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng tại vụ án biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà V, anh T vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


125
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về