Bản án 06/2021/HS-ST ngày/25/01/2021 về tội cưỡng đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 06/2021/HS-ST NGÀY/25/01/2021 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngay 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2020/TLST- HS ngày 25  tháng 12 năm 2020 theo Quyết  định  đưa vụ án  ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Phước T (tên gọi khác: Cu G), sinh năm 1989, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị G, sinh năm 1962; vợ: Liêng Thị N, sinh năm 1992, bị cáo có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án: Ngày 13/4/2017, Đinh Phước T bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 36 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 39/2017/HSST ngày 13/4/2017 của TAND thị xã Tân Uyên. Ngày 31/01/2019, T chấp hành án xong.

Tiền sự: Ngày 17/8/2020, Đinh Phước T bị Công an xã N, huyện B, Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng Quyết định số 27/QĐ-XPHC ngày 17/8/202 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2020 đến nay. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Dương Phi H, sinh năm 1994; Nơi đăng ký thường trú: Số XXX khóm 1, phường S, thị xã A, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số D19 KDC V, phường P, thành phố O, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có đơn vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lê Công Q, sinh năm 2000; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; vắng mặt có đơn vắng mặt. Cùng địa chỉ: Khu phố Y, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Phước T và Lê Công Q là bạn bè quen biết với nhau.

Khoảng 01 giờ 40 ngày 25/8/2020, Q đi bộ đến gặp ông Dương Phi H làm nghề chạy xe ôm công nghệ (Grab) đang đứng chờ khách tại Nhà văn hóa Khu dân cư V thuộc phường P, thành phố O, tỉnh Bình Dương. Q yêu cầu H chở Q đến nhà T tại Ấp M, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương với giá thỏa thuận là 250.000 đồng. Q kêu H lấy điện thoại của H để nhập số điện thoại của Đinh Phước T là 0398667494 để kết bạn Zalo tên “Đ” rồi cho Q mượn điện thoại để nói chuyện với T. T đồng ý trả 250.000 đồng tiền thuê xe. T gửi định vị để chỉ đường cho H, đồng thời T nhờ H mua dùm 02 thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá mỗi cái 100.000 đồng rồi hứa sẽ trả tiền xe và tiền thẻ cào cho H khi H đến nơi. H chở Q đi mua thẻ cào điện thoại rồi cào lấy mã số gửi qua cho T. T nhận được mã thẻ cào của H thì dùng một thẻ để nạp tiền điện thoại, thẻ còn lại nạp vào tài khoản chơi game. Do không có tiền trả nên T nảy sinh ý định không trả tiền mua thẻ cào điện thoại và tiền công H chở Q. Thực hiện ý định này, T cầm theo một con dao tự chế và điều khiển xe môtô (không rõ biển số) chạy đến ngã 3 thuộc ấp 3, xã I, huyện B để ngồi chờ H đến. Khoảng 03 giờ cùng ngày, H chở Q đến chỗ T đang ngồi. H dừng xe cách vị trí T ngồi khoảng 0,5m nhưng xe vẫn nổ máy, Q bước xuống xe, đứng phía sau đuôi xe của H. Lúc này, T cầm dao, nhìn H, đứng lên và nói “về đi, bây giờ muốn mất tiền hay muốn mất xe”. H thấy T cầm dao và đe doạ nên hoảng sợ, điều khiển xe bỏ chạy về thành phố O. T cầm dao điều khiển xe chở Q về ngủ nhờ tại nhà một người bạn của Q ở xã N rồi T về nhà của mình ngủ. Ngày 26/8/2020, H tìm đến nhà T để đòi tiền thì không gặp T nên đến Công an xã I trình báo sự việc bị chiếm đoạt tài sản. Công an xã I lập hồ sơ vụ việc và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền. 

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu VsMART màu xanh đen; 01 dao dài 51cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu sáng trắng, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ Oxhead.

Ngày 17/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Đinh Phước T về Tội cưỡng đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với xe mô tô mà T điều khiển. T khai nhận là xe mượn của người tên T1 không rõ nhân thân lai lịch, sau khi sự việc xảy ra, T đã trả xe cho T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chưa làm việc được với người tên T1.

Về dân sự: Bị hại Dương Phi H không yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 01/CT-VKS-BTU ngày 23/12/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đinh Phước T về “Tội cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Phước T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu VsMART màu xanh đen là phương tiện bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 51cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu sáng trắng, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ Oxhead là phương tiện dùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng; tịch thu sung Ngân sách nhà nước 250.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc nhờ H mua thẻ cào điện thoại cho T nhưng nay H không đề nghị được nhận lại.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; nhận thấy hành vi này là vi phạm pháp luật; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở về đoàn tụ gia đình, làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng huyện Bắc Tân Uyên đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 40 ngày 25/8/2020, Đinh Phước T có hành vi dùng dao đe dọa và lời nói nhằm uy hiếp tinh thần Dương Phi H làm cho ông H sợ, bỏ chạy để chiếm đoạt của ông H 450.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không lao động nên cố tình thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành “Tội cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 01/CT-VKS-BTU ngày 23/12/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, tinh thần của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi cưỡng đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu bản thân mà không phải lao động nên bị cáo cố tình thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị xử phạt 36 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nhưng nay tiếp tục phạm tội nên căn cứ khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi của bị cáo trong trường hợp này là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án và tiền sự về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.

[7] Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có nhân thân xấu. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, đủ để trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Phi H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 điện thoại di động hiệu VsMART màu xanh đen là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; 01 dao dài 51cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu sáng trắng, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ Oxhead là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 200.000 đồng tiền mua card điện thoại cho T là tiền bị cáo T thu lợi bất chính, bị hại không yêu cầu trả số tiền này nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[11] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L là mẹ của Lê Công Q đã trả cho Dương Phi H 200.000 đồng tiền H chạy xe ôm chở Q. Bà L không yêu cầu T trả cho bà số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Xe mô tô mà T điều khiển đến ngã 3 chờ Q và H, T khai là xe mượn của người tên T1 không rõ nhân thân lai lịch nhưng sau khi sự việc xảy ra T đã trả xe cho T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên chưa làm việc được với người tên T1 nên đề nghị tiếp tục điều tra làm rõ.

[13] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Phước T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Phước T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2020.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao dài 51cm có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu sáng trắng, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ OXHEAD đã qua sử dụng;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VsMART màu xanh đen, Model V420A, số Imei 356743102676956 và 356743102676967;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên).

- Buộc bị cáo Đinh Phước T nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;

4. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đinh Phước T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HS-ST ngày/25/01/2021 về tội cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:06/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:đang cập nhật
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về