Bản án 06/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 06/2021/HS-ST NGÀY 03/02/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1987 tại xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn V, xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Hà Thị H; Có vợ: Phạm Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2020 đến ngày 10/11/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Ngưi bị hại: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn V, xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h30’ ngày 28/10/2020, Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà sang nhà bà Nguyễn Thị K để trộm cắp tài sản. Quan sát thấy cổng khóa, H trèo tường rào đột nhập vào nhà bà K, H đi vào phòng khách thấy bà K đang ngủ say, túi quần rơi ra 01 ví nhỏ màu nâu, H liền trộm cắp chiếc ví rồi trèo tường về lại nhà, kiểm tra trong ví có 3.800.000đ gồm 07 tờ tiền polime loại mệnh giá 500.000đ, 01 tờ tiền loại polime mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền loại polime mệnh giá 50.000đ, 01 tờ lịch ngày 23/9/2020, mặt sau có dòng chữ, số “0385157352 cô Ch”. Sau khi trộm cắp được tài sản, H đã tiêu sài cá nhân hết 3.398.000đ.

Sáng ngày 29/10/2020, bà Nguyễn Thị K phát hiện bị mất tài sản nên đến ngày 02/11/2020 đã đến Công an xã Ph trình báo sự việc. Tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra công an huyện Hoằng Hóa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu thập các tài liệu chứng cứ. Biết không thể trốn tránh pháp luật nên 17 h30’ ngày 02/11/2020, Nguyễn Văn H đến Cơ quan Công an huyện Hoằng Hóa đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, giao nộp 01 chiếc ví có kích thước (11x8) cm, bằng chất liệu giả da, màu đỏ nâu, họa tiết da cá xấu, dạng ví một ngăn, dây khóa màu đỏ, ví đã bị hỏng, bên trong có: 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ, 05 tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ, 02 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000đ, tổng 402.000đ và 01 tờ lịch ngày 23/9/2020, phía sau ghi dòng chữ, số “0385157352 cô Ch”.

Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc ví gia da cá sấu, màu nâu bị bong tróc phần nhựa giả da các mép ví, khóa ví đã bị hỏng, kích thước (11x8) cm, số tiền 402.000đ và 01 tờ lịch ngày 23/9/2020, phía sau ghi dòng chữ, số “0385157352 cô Ch”. Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị K.

Về dân sự: Số tiền bị cáo trộm cắp của bà Nguyễn Thị K và đã tiêu sài các nhân là 3.398.000đ, bị cáo chưa bồi thường lại cho bà K, bà K yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền trên.

Bản cáo trạng số 07/CTr-VKSHH ngày 02/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585,586,589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền trộm cắp đã tiêu sài là 3.398.000đ.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Với động cơ, mục đích vụ lợi, để có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn H đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị K, trộm cắp tài sản là số tiền 3.800.000đ và đã tiêu sài cá nhân hết 3.398.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi, biết không thể trốn tránh pháp luật nên bị cáo đã tới cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp tài sản trộm cắp còn lại, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử nhận thấy cần giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự, thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H Bị có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Bản thân bị cáo hiện đang mắc bệnh sơ gan và sỏi thận. Vì vậy, Hội xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo trộm cắp được của bà Nguyễn Thị K và đã tiêu sài hết là 3.398.000đ, bị cáo chưa bồi thường lại cho bị hại, người bị hại cũng yêu cầu bị cáo phải bồi thường theo quy định của pháp luật, vì vậy cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 3.398.000đ.

[5]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc ví giả da cá sấu, màu nâu bị bong tróc phần nhựa giả da các mép ví, khóa ví đã bị hỏng, kích thước (11x8) cm, số tiền 402.000đ và 01 tờ lịch ngày 23/9/2020, phía sau ghi dòng chữ, số “0385157352 cô Ch”. Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị K. Việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu của Cơ quan điều tra là hoàn toàn phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị K số tiền 3.398.000đ (Ba triệu ba trăm chín tám nghìn đồng).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

230
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:06/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về