Bản án 06/2021/HS-PT ngày 26/01/2021 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 06/2021/HS-PT NGÀY 26/01/2021 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2020/HS- PT ngày 02 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Đỗ Tiến S do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 22/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.

- Bị cáo có kháng cáo và không bị kháng nghị:

Đỗ Tiến S, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1996.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn Nông trường Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tiến Th và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị L1; có 01 con sinh ngày 10/10/2020.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/12/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 44/2020/HS-PT).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2020, tạm giam từ ngày 26/3/2020 đến nay; Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình. (về hành vi phạm tội trong vụ án trộm cắp tài sản); “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đan Tiếp Phúc – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Đan Tiếp Phúc – Đoàn Luật sư tỉnh Hòa Bình “có mặt”.

- Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Đinh Công X và Bùi Văn Th đều có nơi cư trú: Xóm Giác, xã Phú Vinh, huyện Tân lạc, tỉnh Hoà Bình. (Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2018 Đinh Công X, có điện thoại cho Đỗ Tiến S, hiện đang lái xe thuê tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung rủ S đi lên Thái Nguyên chơi. Khoảng 00 giờ ngày 17/8/2018 Đinh Công X sang nhà Bùi Văn Th và rủ Th cùng đi Thái Nguyên chơi. X điều khiển xe nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 28C – 046.97 của X chở Th đi từ nhà hướng thành phố Hòa Bình. Khi đi đến khu vực dốc Nếp thuộc phố Bằng, xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình thì Đinh Công X phát hiện chuồng trâu của gia đình chị Vũ Thị Hồng L cách đường Quốc lộ 6 khoảng 20m đang nhốt trâu trong chuồng, X nảy sinh ý định trộm cắp. X dừng xe bảo Th vào trộm trâu, Th đồng ý và xuống xe đi vào chuồng để dắt trộm trâu. Lúc đó X cũng điều khiển xe ô tô đỗ cạnh lề đường, sát gần mô đất, đầu xe hướng Cao Phong – Hòa Bình để quan sát cảnh giới. Khoảng 20 phút sau Th dắt 01 con trâu cái màu đen đi ra, X xuống xe mở cửa thùng xe để Th dắt trâu lên còn X đứng sau đẩy trâu đi lên thùng xe rồi đóng thùng xe lại.

Sau khi trộm được trâu, X điều khiển xe ô tô cùng Th đi về xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc để gặp Sơn. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi gần nơi X gọi điện cho S để bảo S ra cổng UBND xã Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc để gặp nhau. Khi S đến nơi, Th vẫn còn ngồi trên xe, X xuống xe gặp S và bảo “ Tao với Thuận vừa trộm được con trâu, mày mang đi bán”, S đồng ý. Sau đó X đưa xe cho S điều khiển cùng với Th đi lên Lào Cai để bán trâu, còn X bắt xe đi xe khách đi Thái Nguyên chơi. S điều khiển xe cùng Th chở trâu đến chợ Cốc Ly, xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai bán trâu cho một người đàn ông không quen biết với giá 13.000.000 đồng. Ngày 19/8/2018 sau khi bán trâu xong, S gọi điện cho X hỏi đang ở đâu để trả xe và chia số tiền trâu bán được thì X hẹn gặp tại ngã ba Kim Anh, gần cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Khi gặp nhau cả ba chia nhau số tiền bán trâu trộm được, cụ thể: X nhận được số tiền 4.500.000 đồng, Th nhận được số tiền 3.000.000 đồng, S nhận được số tiền 4.000.000 đồng. Còn 1.500.000 đồng S dùng mua dầu đổ xe và chi tiêu dọc đường hết.

Ngày 31/3/2020 chị Vũ Thị Hồng L có đơn trình báo Cơ quan CSĐT – Công an huyện Cao Phong về việc gia đình chị bị mất trộm con trâu cái màu đen, khoảng 7 – 8 tuổi, sừng dài khoảng 2,4m, chiều cao khoảng 1,45m. Các bị cáo đều khai con trâu đã trộm cắp được giống đặc điểm con trâu chị L đã trình báo.

Bản kết luận số 03/KL – HĐGĐ ngày 06/4/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cao Phong đã xác định: Một con trâu cái màu đen, có giá trị tại thời điểm 17/8/2018 là 23.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đinh Công X, bị cáo Bùi Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản; bị cáo Đỗ Tiến S phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm (b, s) khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Công X 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm (b, i, s) khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 101 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Văn Th 07 tháng tù Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm (b, s) khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đỗ Tiến S 12 tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/10/2020, bị cáo Đỗ Tiến S kháng cáo có nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo cho rằng mức hình phạt 12 tháng tù là quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định;

Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng pháp luật, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xét xử đối với bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản là do X và Th trộm cắp và X là người đã bảo S đem tài sản đi bán lấy tiền về chia nhau. Nhận thấy mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo S là có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo giảm một phần hình phạt cho bị cáo (xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù).

- Bị cáo và người bào chữa trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng cấp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Đỗ Tiến S có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Tiến S khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Đỗ Tiến Sơn về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Tiến Sơn, nhận thấy:

Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động để gia đình cùng bồi thường cho bị hại; bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xét xử đối với bị cáo là có căn cứ.

Trong vụ án này, bị cáo Đỗ Tiến S thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản (01 con trâu) do X và Th trộm cắp trước đó và chính X là người đã bảo S đem tài sản đi bán lấy tiền về để chia nhau. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối bị cáo S thấy mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần quá nghiêm khắc (bằng với mức hình phạt của bị cáo X). Do vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt của bị cáo Đỗ Tiến S, cũng có tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Bị cáo Đỗ Tiến Sơn không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Tiến S; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, (Giảm hình phạt cho bị cáo), cụ thể:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Tiến S phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Tiến S 07 (bảy) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành bản án này.

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Tiến S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (26/01/2021).


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HS-PT ngày 26/01/2021 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:06/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về