Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 05/02/2021 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 

BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-ST NGÀY 05/02/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05/02/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích NG; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 101 LTK, phường QT (nay là phường HVT), quận HB, Hải Phòng; nơi ở: Số 65 chợ H, quận LC, Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vũ Mạnh T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 101 LTK, phường QT (nay là phường HVT), quận HB, Hải Phòng; nơi ở: Số 96 ĐTHh, phường ĐL, quận HA, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 10 năm 2020 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích NG trình bày:

Chị và anh Vũ Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 1987 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, Hải Phòng vào ngày 30/6/1987.

Qúa trình chung sống, đến khoảng vài năm trở lại đây giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng về tình cảm cũng như trong quan điểm sống, suy nghĩ, tính cách của cả hai không phù hợp. Anh chị nhiều lần xảy ra cãi vã, dẫn đến xô xát và có nhiều lời lẽ xúc phạm, mạt sát lẫn nhau. Cả hai không còn tình cảm và sự tôn trọng đối với nhau khiến cuộc sống chung ngày càng ngột ngạt, bế tắc. Mặc dù các con cùng gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không có kết quả. Trên thực tế, hai anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi được gần một năm nay, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt của đời sống. Chị NG nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục duy trì do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn và bản thân chị không còn tình cảm nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Vũ Mạnh T để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai con chung Vũ Huy HG, sinh năm 1988 và Vũ Thu TR, sinh năm 1995, hiện đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị NG không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với T bộ yêu cầu khởi kiện của chị NG, bị đơn là anh Vũ Mạnh T có quan điểm như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận vợ chồng kết hôn và về chung sống với nhau từ năm 1987; có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Qúa trình chung sống, hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn tuy nhiên không quá trầm trọng. Thời gian gần đây, do chị NG thay đổi về tình cảm nên không muốn tiếp tục chung sống cùng anh và nhiều lần đề cập đến vấn đề ly hôn. Các con và gia đình hai bên đã khuyên ngăn, hòa giải nhiều lần nhưng chị NG vẫn không thay đổi quan điểm. Anh T chuyển ra ngoài ở riêng được gần một năm nay. Hai vợ chồng thực tế đã sống ly thân mỗi người một nơi, cuộc sống hôn nhân cũng không thể tiếp tục duy trì. Chị NG đơn phương yêu cầu ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Vũ Huy HG, sinh năm 1988 và Vũ Thu TR, sinh năm 1995, đều đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Yêu cầu về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích NG là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Vũ Mạnh T hiện đang cư trú tại địa chỉ: Số 96 ĐTHh, phường ĐL, quận HA, Hải Phòng; do đó, Tòa án nhân dân quận Hải An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích NG vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Vũ Mạnh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của anh T tại phiên tòa không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích NG và anh Vũ Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, Hải Phòng vào năm 1987. Như vậy, việc kết hôn giữa chị NG và anh T tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ xác minh mâu thuẫn cũng như tình trạng hôn nhân giữa anh chị thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và kéo dài được một thời gian. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về nhiều mặt trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau dẫn đến xô xát. Gia đình và bản thân anh chị đã cố gắng nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả; hiện anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi được gần một năm nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Cả hai đều xác nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng tiếp tục duy trì hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị NG và anh T đã không còn khả năng hàn gắn do đó theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của chị NG là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Con chung Vũ Huy HG, sinh năm 1988 và Vũ Thu TR, sinh năm 1995 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết. [6] Về án phí: Chị NG phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích NG được ly hôn với anh Vũ Mạnh T.

- Về con chung: Không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về tài sản chung: Không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Bích NG phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị NG đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu số 0017945 ngày 06 tháng 11 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An.

- Về quyền kháng cáo:

Chị NG; anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 05/02/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:06/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hải An - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về