Bản án 06/2018/HSST ngày 12/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 06/2018/HSST NGÀY 12/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12/01/2018, tại Nhà văn hóa thôn Lẽ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành. Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2017/HSST ngày 01/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2017/HSST- QĐ ngày 27/12/2017 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm:1982.

Nơi cư trú: Khu 8, xã Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp:

Tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị S2; có vợ là Chu Thị H và 02 con.

Tiền sự: Không

Tiền án: Tại bản án số 20 ngày 15/04/2016 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Nhân thân: Ngày 01/09/2011 bị áp dụng biện pháp sử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh Phú Thọ theo Quyết định số 2287 của Chủ tịch UBND huyện Phù Ninh. Ngày 06/09/2013 Nguyễn Văn T đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2017. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 12/09/2017 tại Khu đô thị Bắc Hà thuộc thôn Đa Tiện, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Thuận Thành bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: Thu được tại túi quần đùi phía trước bên phải T đang mặc có 01 bơm kim tiêm; 01 lọ nước cất có chữ NOVOCAIN, tại túi quần bên trái phía trước của T có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa 02 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng. Công an huyện Thuận Thành đã lập biên bản và niêm phong thu giữ 02 gói ma túy và tang vật trên.

Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ T khai: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 12/09/2017, T đang đi trên đường tại khu vực đường tàu thuộc thị xã Từ Sơn thì T gặp một người thanh niên không quen biết đi xe máy RX không rõ BKS đến và rủ T cùng đi bán xe máy và hứa cho T 200.000đ để mua ma túy sử dụng. Sau đó T và người thanh niên này đi bằng xe máy về khu vực xã Xuân Lâm, Thuận Thành, Bắc Ninh, trên đường đi người thanh niên này dưa cho T 01 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất bên ngoài có chữ NOVOCAIN. Sau đó cả hai rẽ vào quán nước, tại đây người thanh niên đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa 02 gói ma túy và bảo T vẫn còn thuốc tý chơi. Sau đó người thanh niên này bảo đi một lát rồi đưa T qua đường và người thanh niên này lại đi tiếp. T cầm bao thuốc lá cất vào túi quần đùi bên trái phía trước, còn bơm kim tiêm và lọ nước cất thì T cất vào túi quần đùi phía trước bên phải đi được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tang vật trên.

Tại bản Kết luận giám định số 1078/ KLGĐ – PC 54 ngày 12/09/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng có trọng lượng 0,1825 gam, là ma túy, loại ma túy: Chất Heronine.”

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 90/Ctr - VKS, ngày 28/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Nguyễn Văn T khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và thừa nhận toàn bộ hành vi thực hiện như bản cáo trạng đã nêu là chính xác. Bản thân bị cáo bị nghiện ma tuý, mục đích bị cáo cầm gói ma túy là để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thừa nhận gói ma tuý mà Công an thu giữ đúng là số ma tuý mà người thanh niên không quen biết đưa cho bị cáo trước đó.

Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định số ma túy bị thu giữ. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ buộc tội bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo từ 20 đến 22 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ tang vật còn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất bên ngoài có chữ NOVOCAIN.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ: Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 12/09/2017, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma tuý có trọng lượng theo kết luận giám định là 0,1825 gam hêroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng nên đã đi vào con đường phạm tội. Chính vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, bản thân bị cáo có 01 tiền án: ngày 15/04/2016 bị TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án, hiện chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu: ngày 01/09/2011 bị áp dụng biện pháp sử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh Phú Thọ theo Quyết định số 2287 của Chủ tịch UBND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân mà nay lại phạm vào một tội nghiêm trọng điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Mặt khác do sự thay đổi của Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định một hình phạt nhẹ hơn cho người phạm tội nên khi lượng hình cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước. Nhưng xét mục đích bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích thu lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người thanh niên đưa ma túy cho T nhưng T không quen và không biết tên, tuổi, địa chỉ  của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành chưa làm rõ được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:

Xử phạt: Nguyễn Văn T 17 (Mười bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo Kết luận số 1078/ KLGĐ – PC 54, ngày 12/09/2017”, 01 bơm kim tiêm đã bóc vỏ; 01 lọ nước có ghi NOVOCAIN còn mới chưa sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 13/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành và )

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


84
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về