Bản án 06/2018/HNGĐ-PT ngày 29/01/2018 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 06/2018/HNGĐ-PT NGÀY 29/01/2018 VỀ TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON CHUNG

Trong các ngày 24 và 29 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2018/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp: “Xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 183/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện P bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2018/QĐPT-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự 

- Nguyên đơn: Anh Trương Thanh H, sinh năm 1979; (Có mặt) Cư trú tại: Thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Ánh K, sinh năm 1990; (Có mặt) Cư trú tại: Thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.

Người kháng cáo: Bị đơn chị Đoàn Thị Ánh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Trương Thanh H trình bày:

Vào năm 2013 anh và chị Đoàn Thị Ánh K đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 39/2013/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện P. Theo đó, về con chung anh chị thỏa thuận giao con chung là cháu Trương Thị Ánh N, sinh ngày 05/01/2012 cho chị Đoàn Thị Ánh K trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Mặc dù không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh vẫn thường xuyên mua sữa, quà cáp đến thăm con. Sau khi được Tòa án giao nuôi con, chị K chỉ trực tiếp nuôi con được thời gian ngắn sau đó giao lại cho mẹ ruột là bà Phạm Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị K ra Đà Nẵng làm ăn và hiện nay chị K đã có chồng và con khác.

Mỗi lần anh đến thăm con thì bà S không cho phép và gây khó khăn. Vừa qua anh có đặt vấn đề với chị K về việc giao cháu N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng nhưng chị K không đồng ý và đưa cháu N ra Đà Nẵng sống với chị. Chị K hiện nay không có chỗ ở ổn định, đang ở nhà trọ và đang có con nhỏ với người chồng mới nên việc chăm sóc cháu N không đảm bảo; còn anh có công việc ổn định, có nơi ở gần nhà bà ngoại cháu N, gần nơi cháu N đang theo học mẫu giáo và vào năm2016 anh có mua bảo hiểm nhân thọ cho cháu N để khi lớn lên cháu có tiền chi phí cho việc học tập. Vì vậy, anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giao cháu N cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con chung.

Theo các lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn chị Đoàn Thị Ánh K trình bày:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện P thì chị là người có quyền nuôi con chung là cháu Trương Thị Ánh N cho đến tuổi trưởng thành. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi cháu N vì anh H có trách nhiệm trả nợ chung cho vợ chồng. Sau khi được Tòa giao nuôi cháu N, chị đi làm ăn ở thành phố Đà Nẵng có đem cháu N theo. Sau hai năm vì không có nơi ăn ở ổn định nên chị gởi cháu N cho mẹ ruột nuôi dưỡng, hai tuần chị về thăm con một lần. Mặc dù không ở gần con nhưng chị vẫn có trách nhiệm với con. Hiện nay chị đã có chồng ở thành phố Đà Nẵng. Đầu tháng 10/2017, chịcó đưa cháu N ra sống chung với chị tại nhà chị thuê riêng tại kiệt 169/17 đường P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng và chị đang làm việc tại Công ty Bia, thu nhập mỗi tháng là 8.000.000đ, chồng chị làm nghề xăm hình. Chị thấy chị có đủ khả năng nuôi cháu N nên chị không chấp nhận yêu cầu của anh H.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số183/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện P đã áp dụng các điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, các điều 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Thanh H, giao cháu Trương Thị Ánh N đang được chị Đoàn Thị Ánh K nuôi dưỡng sang cho anh Trương Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian thay đổi người trực tiếp nuôi con kể từ ngày01/01/2018 cho đến khi cháu N trưởng thành. Chị K không phải cấp dưỡng nuôicon. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án vàquyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 29 tháng 11 năm 2017, bị đơn chị Đoàn Thị Ánh K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Trương Thanh H không rút đơn khởi kiện, bị đơn chị Đoàn Thị Ánh K không rút đơn kháng cáo mà cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu Trương Thị Ánh N cho anh Trương Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng là không phù hợp, chị kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, giao con cho chị nuôi và chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Anh Trương Thanh H và chị Đoàn Thị Ánh K có một con chung là cháu Trương Thị Ánh N, sinh ngày 05/01/2012. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của Các đương sự số 39/2013/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện P, về con chung anh H và chị K thỏa thuận giao cháu N cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Nay anh H yêu cầu thay đổi người nuôi con nhưng chị K không đồng ý, Tòa án cấp sơ thẩm xử giao cháu N cho anh H nuôi, chị K kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giao con cho chị nuôi.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, anh H và chị K đều có thu nhập ổn định và đủ điều kiện để nuôi dạy cháu N. Nuôi con là trách nhiệm của cả cha và mẹ, nguyện vọng nuôi con của anh H và chị K là chính đáng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu N. Cháu N là cháu gái nên cần có sự chăm sóc, giáo dục về tâm sinh lý của người mẹ và thực tế từ sau khi anh H và chị K ly hôn từ ngày 14/6/2013 đến nay cháu N được chăm sóc, giáo dục và phát triển bình thường. Hiện nay cháu N đang sống cùng với chị K và theo học tại trường mầm non Hoàng Mai, tại thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường của cháu N, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giao cháu N cho chị K tiếp tục được nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Đoàn Thị Ánh K, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 183/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện P, giao cháu Trương Thị Ánh N, sinh ngày 05/01/2012 cho chị Đoàn Thị Ánh K chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Án phí dân sự dân sự sơ thẩm: Anh Trương Thanh H phải chịu.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của chị Đoàn Thị Ánh K được chấp nhận nên chị không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng cáo của chị Đoàn Thị Ánh K, sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số số 183/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.

Áp dụng các điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, các điều 28, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của anh Trương Thanh H về việc “Xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung”.

Giao cháu Trương Thị Ánh N, sinh ngày 05/01/2012 đang sống với chị Đoàn Thị Ánh K cho chị Đoàn Thị Ánh K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Trương Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi cháu Trương Thị Ánh N. Anh Trương Thanh H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, anh H, chị K có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trương Thanh H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà anh H đã nộp theo biên lai thu số J025105 ngày 06/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.

Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Đoàn Thị Ánh K không phải chịu. Hoàn trả lại cho chị Đoàn Thị Ánh K số tiền 300.000 đồng mà chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số J025160 ngày 04/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng Nam.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29/01/2018).


121
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về