Bản án 06/2017/HNGĐ-PT ngày 12/12/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 06/2017/HNGĐ-PT NGÀY 12/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON VÀ CẤP DƯỠNG NUÔI CON

Ngày 12 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 14/2017/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn; cấp dưỡng nuôi con”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2017/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng G, sinh năm 1994 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá D, sinh năm 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn T, huyện S, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 14/9/2017 của Bị đơn về phần cấp dưỡng nuôi con: Bà Trịnh Thị Kim H, sinh năm 1961 (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Bá D.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng G trình bày:

- Ngày 22/5/2015, chị và anh Nguyễn Bá D đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống chung với nhau tại thôn P, xã L, huyện S, tỉnh Ninh Thuận. Do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh D không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên xúc phạm, thỉnh thoảng còn đánh đập chị. Khoảng 03 tháng sau khi kết hôn, chị và anh D sống riêng và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

- Vợ chồng chị sinh được 01 người con chung tên Lê Huỳnh Huyền T, sinh ngày 05/02/2016. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung; Chị yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.

- Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn anh Nguyễn Bá D trình bày:

- Anh xác nhận nội dung trình bày của chị Lê Thị Hồng G về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng trong thời gian sống chung là đúng sự thật. Do không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được, nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị G.

- Anh và chị G có 01 con chung tên Lê Huỳnh Huyền T, sinh ngày 05/02/2016 như chị G trình bày. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con chung vì hoàn cảnh kinh tế của anh khó khăn.

- Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ tài sản chung và nợ chung. Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn đã quyết định:

- Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng G được ly hôn với anh Nguyễn Bá D.

2/. Về con chung:  Giao con chung Lê Huỳnh Huyền T - sinh ngày 05/02/2016 cho chị Lê Thị Hồng G tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Bá D phải cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 700.000 đồng kể từ tháng 6/2017 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi và tự lao động được.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền thi hành án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng của các đương sự.

Ngày 08/9/2017, Bị đơn anh Nguyễn Bá D làm đơn kháng cáo và nộp đơn kháng cáo Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn cho Tòa án. Nội dung kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm miễn giảm cho anh D nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án và các Thẩm phán tham gia phiên tòa đã chấp hành đúng quy định về: Thụ lý xét xử phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm, triệu tập những người tham gia xét xử phúc thẩm đúng các điều 285, 286, 294 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận nội dung yêu cầu kháng cáo của Bị đơn anh Nguyễn Bá D;

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng G có đơn xin xét xử vắng mặt (BL 80); Bị đơn anh Nguyễn Bá D ủy quyền cho bà Trịnh Thị Kim H tham gia tố tụng về phần cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt chị G và anh D.

- Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn chị Lê Thị Hồng G không rút đơn khởi kiện; Bị đơn anh Nguyễn Bá D ủy quyền cho bà Trịnh Thị Kim H tham gia tố tụng không thay đổi, bổ sung, không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Qua các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung trình bày của các đương sự được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn giữa chị G và anh D” là chưa đầy đủ. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”, “Tranh chấp nuôi con” và “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con” được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn anh D có nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm miễn giảm cho anh D nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Tại Trích lục kết hôn ngày 03/2/2016 (BL 02) thể hiện: Chị Lê Thị Hồng G và anh Nguyễn Bá D đăng ký kết hôn với nhau ngày 22/2/2015 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.

Tại Bản tự khai ngày 10/7/2017 (BL 41) anh Nguyễn Bá D khai: Anh và chị G có 01 con chung tên Lê Huỳnh Huyền T, sinh ngày 05/02/2016. Anh đồng ý để chị G nuôi con chung và không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì anh là phụ xe, lương hàng tháng khoảng 3.000.000 đồng, chi phí thuê nhà 1.000.000 đồng nên chỉ còn lại 2.000.000 đồng dùng để sinh hoạt hàng tháng.

Tại Giấy chứng thương số 1500812-GCT/NT của Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận (BL 60) chứng nhận bệnh nhân Nguyễn Bá D đến điều trị bệnh tại Khoa ngoại tổng hợp từ ngày 09/9/2015 đến ngày 24/9/2015; tình trạng thương tích khai do đả thương; Chẩn đoán: Vết thương thấu ngựng bụng - đứt cuốn lách.

Tại Giấy ra viện ngày 24/9/2015 của Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận (BL 61) thể hiện: Anh Nguyễn Bá D ra viện ngày 24/9/2015; Lời dặn thầy thuốc: Tránh lao động nặng 06 tháng.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 20/2016/HS-PT ngày 21 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (BL 30 đến 32) thể hiện: Anh Nguyễn Bá D sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên hiện tại là 49% (Biên bản kết luận giám định pháp y thương tích số 197/TgT ngày 06/11/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Thuận).

Xét thấy: Cháu Lê Huỳnh Huyền T là con chung của anh D và chị G. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị G yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho cháu T 1.000.000 đồng/01 tháng, kể từ tháng 06/2017 đến khi cháu T đủ 18 tuổi và tự lao động được. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do hiện nay sức khỏe của anh D bị giảm sút 49%; ngoài chi phí sinh hoạt cá nhân, anh D còn phải chăm sóc hồi phục sức khỏe, nên quyết định anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu T 700.000 đồng/01 tháng, kể từ tháng 06/2017 đến khi cháu T đủ 18 tuổi, tự lao động tự túc được là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với thu nhập, sức khỏe hiện nay của anh D.

Từ những phân tích đánh giá chứng cứ nói trên; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu kháng cáo của Bị đơn anh Nguyễn Bá D; Chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình số 37/2017/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Bá D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu kháng cáo của Bị đơn anh Nguyễn Bá D.

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2014/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng G được ly hôn với anh Nguyễn Bá D.

2/. Về con chung: Giao con chung tên Lê Huỳnh Huyền T - sinh ngày 05/02/2016 cho chị Lê Thị Hồng G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Bá D phải cấp dưỡng nuôi con chung Lê Huỳnh Huyền T mỗi tháng 700.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2017 cho đến khi con chung Lê Huỳnh Huyền T đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm:

- Chị Lê Thị Hồng G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0012439 ngày 04/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Anh Nguyễn Bá D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Bá D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0013276 ngày 11/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


131
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2017/HNGĐ-PT ngày 12/12/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

Số hiệu:06/2017/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/12/2017
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về